Hướng Dẫn Nhanh (Dành cho Bác Sĩ Lâm Sàng) Cắt Cơn Cai Nghiện Và Điều Trị Lạm Dụng Chất Gây Nghiện

Hướng Dẫn Nhanh Dành cho Bác Sĩ Lâm Sàng Dựa trên TIP 45 Cắt Cơn Cai Nghiện Và Điều Trị Lạm Dụng Chất Gây Nghiện

Lời cảm ơn

Cuốn tài liệu này là kết quả của sự nỗ lực hợp tác giữa Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) và Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM. Chúng tôi mong muốn được bày tỏ lòng biết ơn tới các chuyên gia trong lĩnh vực Điều trị nghiện và các đồng nghiệp đã góp sức giúp hoàn thành tài liệu. Chúng tôi đặc biệt đánh giá cao sự đóng góp của Tiến sĩ Kevin P.Mulvey, Cố vấn cao cấp về Điều trị Lạm dụng Ma túy của PEPFAR và ông Peter Mahomet, Cán bộ cao cấp của CDC tại Việt Nam.

Chúng tôi bày tỏ sự cảm ơn tới tổ chức PEPFAR, CDC đã hỗ trợ Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM về tài chính và kỹ thuật cho việc thực hiện phát triển tài liệu này tại Việt Nam. Chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn tới Văn phòng Quản lý các dịch vụ Y tế và Lạm dụng Ma túy của Chính phủ Hoa Kỳ (SAMHSA) đã cho phép chúng tôi được dịch và xuất bản tài liệu này tại Việt Nam.

Bộ tài liệu này do Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM thực hiện dưới sự chỉ đạo của TS.BS.Lê Trường Giang, Phó Chủ tịch Thường trực, Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM. Chúng tôi gửi lời cảm ơn tới: Chị Vũ Thị Tường
Vi, Chị Nguyễn Thị Thúy Ngà và các thành viên Phòng hỗ trợ Điều trị Nghiện & Tái hòa nhập cộng đồng, Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM đã đóng góp ý kiến, hỗ trợ trong quá trình thực hiện.

Trong quá trình biên dịch và xuất bản sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.

Xin trân trọng cảm ơn.

Mục Lục

TẠI SAO XEM ĐÂY LÀ HƯỚNG DẪN NHANH?

Cuốn Hướng dẫn nhanh này được xây dựng kèm theo với cuốn Cắt Cơn Cai Nghiện Và Điều Trị Lạm Dụng Chất Gây Nghiện, số 45 trong loạt tài liệu về Phác đồ cải thiện điều trị do Trung tâm Điều trị Lạm dụng Chất gây nghiện (CSAT) và Cơ quan Quản lý Lạm dụng Chất gây nghiện và Sức khoẻ Tâm thần (SAMHSA) xuất bản. Những thông tin nêu trong cuốn sách này hoàn toàn dựa theo nội dung của TIP 45 nhưng được cô đọng nhằm giúp các bác sĩ lâm sàng không có nhiều thời gian nghiên cứu có thể dễ dàng tiếp cận những thông tin cần thiết.

Cuốn Hướng dẫn nhanh này được chia thành 9 mục (xem Mục lục) nhằm giúp độc giả nhanh chóng xác định vị trí những thông tin cần tìm. Để biết thêm thông tin về các chủ đề trong cuốn Hướng dẫn nhanh này, độc giả có thể tham khảo trực tiếp trong TIP 45.

Lưu ý

Cuốn Hướng dẫn nhanh này không thể sử dụng thay thế cho những hướng dẫn lâm sàng trong việc kiểm soát quá trình giải độc. Cuốn sách này chỉ cung cấp một cái nhìn khái quát ngắn gọn về những đặc tính chung của quá trình giải độc. Những chi tiết cần thiết cho việc kiểm soát lâm sàng đối với những bệnh nhân trầm uất được đề cập đầy đủ hơn trong TIP 45.

TIP* LÀ GÌ?

TIP bắt đầu xuất bản từ năm 1991. Việc xuất bản loạt tài liệu TIP nhằm phổ biến những hướng dẫn đã được nhất trí và xác thực liên quan đến việc điều trị lạm dụng chất gây nghiện, hiện đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn xã hội.

Dựa trên TIP 45 Cắt Cơn Cai Nghiện Và Điều Trị Lạm Dụng Chất Gây Nghiện:

  • Cung cấp những thông tin và diễn biến mới nhất về những vấn đề thường phát sinh trong quá trình tiến hành các dịch vụ giải độc.
  • Tập trung vào những vấn đề bác sĩ lâm sàng cần biết và cung cấp những thông tin đó theo một cách dễ tiếp nhận.

Để biết thông tin liên hệ đặt mua TIP 45 và các TIP khác, vui lòng xem mặt sau bìa sách.

(*) TIP: Treatment Improvement Protocol – Phác đồ cải thiện điều trị

GIỚI THIỆU

Trước những năm 1970, việc say rượu ở nơi công cộng thường được xem là một tội hình sự. Những người bị bắt vì tội say rượu thường bị giam giữ ở những nhà giam đặc biệt gọi là “những xà lim say xỉn”. Tại những nhà giam này, họ thường trải qua những triệu chứng trầm uất nhưng lại không nhận được bất kỳ sự can thiệp về y tế nào. Tuy nhiên, xã hội đã phát triển theo hướng ủng hộ quan điểm nhân văn hơn đối với những người mắc chứng rối loạn sử dụng chất gây nghiện, chính vì thế một số phương pháp giải độc đã được nghiên cứu và phát triển.

Mô hình y tế của việc cắt cơn giải độc đặc trưng bởi sự tham gia của các bác sĩ, y tá kết hợp với sử dụng thuốc trong việc trợ giúp người bệnh vượt qua giai đoạn trầm uất an toàn. Mô hình xã hội chủ yếu phụ thuộc vào môi trường hỗ trợ ngoài bệnh viện hơn là điều trị bằng thuốc nhằm giúp bệnh nhân vượt qua trầm uất dễ dàng hơn.

Định Nghĩa:

Cắt cơn giải độc là một loạt các can thiệp nhằm kiểm soát các tình trạng nhiễm độc và trầm uất cấp tính. Cắt cơn giải độc chính là loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, thường được áp dụng đối với người bệnh bị nhiễm độc cấp tính và/hoặc lệ thuộc vào việc lạm dụng chất gây nghiện. Giải độc nhằm giảm thiểu những tổn hại về mặt thể chất gây ra bởi việc lạm dụng chất gây nghiện.

Cắt cơn giải độc chỉ là một phần không phải là toàn bộ quá trình điều trị và hồi phục đối với các rối loạn sử dụng chất gây nghiện.

Việc đánh giá bao gồm kiểm tra sự hiện diện của các chất lạm dụng trong máu, đo nồng độ các chất đó và kiểm tra sàng lọc các tình trạng tâm sinh lý diễn ra đồng thời. Ngoài ra, việc đánh giá cũng bao gồm một đánh giá toàn diện về tình trạng y tế, tâm lý, và xã hội của người bệnh.

Ổn định bao gồm các quá trình y tế và tâm lý xã hội nhằm giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nhiễm độc và trầm uất cấp tính để đạt được một trạng thái không chất gây nghiện, ổn định về mặt y tế, và được hỗ trợ đầy đủ.

Thúc đẩy người bệnh tham gia điều trị bao gồm việc chuẩn bị cho người bệnh bước vào quá trình điều trị bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo đuổi các diễn tiến liên tục hoàn chỉnh của quá trình chăm sóc.

Các Nguyên Tắc Hướng Dẫn/Các Giả Định

Các giả định sau đây đã được nhóm chuyên gia soạn thảo TIP 45 tán thành và sử dụng làm nền tảng xây dựng tác phẩm.

  1. Chỉ một mình quá trình giải độc không thể chữa trị hoàn toàn tình trạng lệ thuộc chất gây nghiện. Giải độc chỉ là một phần của một quá trình chăm sóc liên tục đối với các rối loạn liên quan đến chất gây nghiện.
  2. Quá trình giải độc bao gồm 3 bước sau:
    • Đánh giá
    • Ổn định
    • Thúc đẩy người bệnh tham gia điều trị

    Theo Uỷ ban đồng thuận, một quá trình giải độc không bao gồm đầy đủ 3 bước chính nêu trên được xem là không hoàn chỉnh và không đầy đủ.

  3. Việc giải độc có thể được tiến hành theo nhiều hình thức đa dạng khác nhau và trong mỗi hình thức lại có nhiều mức cường độ khác nhau. Chính vì thế việc sắp xếp phân loại cần phải phù hợp với nhu cầu của từng bệnh nhân.
  4. Mọi người bệnh tham gia giải độc cần phải được tiến hành đầy đủ 3 bước của quá trình giải độc nêu trên bất kể loại hình và cường độ điều trị.
  5. Tất cả mọi người có nhu cầu điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện đều phải được điều trị một cách phù hợp triệt để, với chất lượng như nhau. Sau quá trình giải độc người bệnh nên được sắp xếp liên hệ với chương trình điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện.
  6. Về căn bản, tổng chi phí bảo hiểm cho toàn bộ quá trình giải độc và các điều trị tiếp nối sau đó hoàn toàn có hiệu quả chi phí. Trong trường hợp hệ thống thanh toán không chi trả cho toàn bộ quá trình giải độc, bệnh nhân có thể ngưng giải độc trước thời hạn, dẫn đến những trầm uất không được kiểm soát về mặt y tế và xã hội.
  7. Những bệnh nhân có nhu cầu giải độc có thể xuất thân từ các nền văn hóa và dân tộc khác nhau, họ cũng có những nhu cầu riêng về sức khoẻ và có hoàn cảnh sống khác biệt. Các tổ chức cung cấp dịch vụ giải độc cần phải đảm bảo có sẵn các phương thức tiêu chuẩn để đáp ứng sự đa dạng văn hoá của bệnh nhân.
  8. Mức độ thành công của một quá trình giải độc có thể được đánh giá một phần dựa trên việc liệu người bệnh có tham gia, gắn bó và tuân thủ phác đồ điều trị trong điều trị lạm dụng chất gây nghiện hoặc chương trình hồi phục sau giải độc không.
>>  Tâm lý người nghiện trong giai đoạn cắt cơn

Nguyên Tắc Về Chăm Sóc Bao Quát Trong Các Dịch Vụ Cắt Cơn Giải Độc

  • Dịch vụ cắt cơn không nhằm cung cấp việc điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện mà chỉ là bước đầu tiên của việc hồi phục và là cánh cửa đầu tiên người bệnh cần bước qua để tham gia vào điều trị.
  • Rối loạn sử dụng chất gây nghiện hoàn toàn có thể chữa được và có hy vọng hồi phục.
  • Rối loạn sử dụng chất gây nghiện là những rối loạn trong não bộ và hoàn toàn không liên quan đến việc thiếu đạo đức.
  • Người bệnh cần được đối xử với thái độ tôn trọng, ôn hoà và nghiêm chỉnh trong suốt mọi thời điểm của quá trình.
  • Người bệnh cần được đối xử với thiện ý giúp đỡ và không kèm thái độ xét đoán.
  • Việc xây dựng kế hoạch giải độc cần dựa trên mối quan hệ với bệnh nhân, với mạng lưới hỗ trợ xã hội của họ bao gồm gia đình, các nguồn hỗ trợ xã hội hoặc cơ quan nơi họ làm việc.
  • Tất cả các chuyên gia sức khoẻ tham gia vào việc chăm sóc người bệnh sẽ giúp gia tăng tối đa cơ hội hồi phục và các hoạt động duy trì của người bệnh, đồng thời giúp liên hệ người bệnh với việc điều trị lạm dụng thích hợp sau giai đoạn giải độc.
  • Khuyến khích việc tham gia chủ động từ phía gia đình hoặc các hệ thống hỗ trợ tuy nhiên vẫn đảm bảo tôn trọng quyền riêng tư và bảo mật của người bệnh.
  • Bệnh nhân nên được đối xử dựa trên sự cân nhắc về các yếu tố cá nhân liên quan đến xuất thân, văn hoá, sở thích, khuynh hướng tình dục, khiếm khuyết, tổn thương và thế mạnh riêng

CÁC MỨC ĐỘ CHĂM SÓC VÀ SẮP XẾP PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN

Bên cạnh tiêu chí chung về sắp xếp trong điều trị rối loạn liên quan đến chất gây nghiện, Tiêu chí sắp xếp phân loại bệnh nhân, tái bản lần 2, đã hiệu đính (viết tắt là PPC-2R) của Hội Y khoa về Nghiện ma tuý Hoa Kỳ (ASAM) đã đưa ra phiên bản thứ hai về tiêu chí sắp xếp. Phiên bản này chính là phần nội dung chính mà TIP 45 và cuốn Hướng dẫn nhanh này chú trọng vào, bao gồm 5 cấp độ phân loại “giải độc cho người trưởng thành” cho việc chăm sóc ở hướng 1 (ASAM 2001). Các cấp độ “giải độc cho người trưởng thành” trong chăm sóc bao gồm:

  • Cấp độ I-D: Giải độc ngoại trú không bao gồm giám sát mở rộng tại chỗ (ví dụ: tại phòng khám của bác sĩ, cơ quan chăm sóc sức khoẻ tại nhà). Cấp độ chăm sóc này là một dịch vụ điều trị ngoại trú có tổ chức, có sự giám sát tại những thời điểm ngắt quãng giữa các giai đoạn được xác định trước.
  • Cấp độ II-D: Giải độc ngoại trú có giám sát mở rộng tại chỗ (ví dụ: dịch vụ ngày tại bệnh viện). Cấp độ chăm sóc này được giám sát bởi những y tá được chứng nhận và cấp phép phù hợp.
  • Cấp độ III2-D: Giải độc tại nhà có sự quản lý lâm sàng (ví dụ: loại hình giải độc không dùng thuốc, giải độc xã hội). Cấp độ này nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của những
  • Cấp độ III2-D: Giải độc tại nhà có sự quản lý lâm sàng (ví dụ: loại hình giải độc không dùng thuốc, giải độc xã hội). Cấp độ này nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của những thành viên khác trong nhóm cũng như của xã hội, được chỉ định cho những bệnh nhân nhiễm độc và /hoặc mắc chứng trầm uất đòi hỏi phải có sự hỗ trợ suốt 24 giờ.
  • Cấp độ III7-D: Giải độc nội trú có giám sát y tế (ví dụ: trung tâm giải độc tự lập). Không giống như cấp độ III2D, cấp độ này cung cấp dịch vụ giải độc có giám sát y tế suốt 24 giờ.
  • Cấp độ IV-D: Giải độc nội trú cường độ cao có giám sát y tế (ví dụ: trung tâm điều trị nội trú bệnh viện tâm thần). Cấp độ này cung cấp việc chăm sóc 24 giờ cho các trường hợp nội trú cấp tính.

Cần lưu ý, tiêu chí PPC-2R của ASAM chỉ là những hướng dẫn không kèm theo bất cứ phác đồ thống nhất nào để xác định việc người bệnh sẽ được sắp xếp phân loại vào cấp độ chăm sóc nào. Để biết thêm thông tin chi tiết về việc sắp xếp bệnh nhân, độc giả nên tham khảo thêm trong TIP 13, Vai trò và hiện trạng của các tiêu chí bố trí bệnh nhân trong việc điều trị những rối loạn do sử dụng chất gây nghiện (CSAT 1995)

CÁC VẤN ĐỀ Y SINH VÀ TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

Giải độc đưa ra một cơ hội để can thiệp vào thời kỳ khủng hoảng của người bệnh nhằm động viên họ thay đổi theo hướng có lợi cho sức khoẻ và hồi phục. Do đó, mục tiêu chính của các nhân viên giải độc chính là xây dựng mối quan hệ điều trị và khuyến khích người bệnh tham gia điều trị. Quá trình này nên bắt đầu khi người bệnh đang trong tình trạng ổn định về mặt y tế.

Triệu Chứng Và Dấu Hiệu Của Tình Trạng Cần Sự Chăm Sóc Y Tế Tức Thời

  • Trạng thái tâm thần thay đổi
  • Gia tăng cảm giác lo lắng
  • Ảo giác
  • Nhiệt độ tăng trên 100,4o F (tương đương 38o C) (những bệnh nhân có triệu chứng này nên được xem là có nguy cơ lây nhiễm)
  • Tăng hoặc/và giảm huyết áp và nhịp tim đáng kể
  • Mất ngủ
  • Đau bụng
  • Xuất huyết dạ dày ruột trên và dưới
  • Thay đổi mức độ phản ứng của đồng tử
  • Phản xạ gân sâu tăng, chứng giật gân mắt cá chân, dạng phản xạ đập ở bàn chân khi bị ép thẳng đứng, làm cho thần kinh trung ương bị kích thích mạnh hoặc có nguy cơ tai biến ngập máu

Nhu Cầu Sức Khoẻ Tâm Thần Tức Thời

Sau đây là danh mục các vấn đề về sức khoẻ tâm thần đòi hỏi sự chăm sóc tức thời:

Tự sát
  • Bệnh nhân tham gia dịch vụ giải độc cần được đánh giá về nguy cơ tự sát.
  • Trong suốt giai đoạn nhiễm độc và trầm uất cấp tính, việc cung cấp một môi trường hạn chế tối đa mọi nỗ lực tự sát của người bệnh là rất quan trọng.
  • Nên tiến hành kiểm tra an toàn thường xuyên.
  • Các bệnh nhân có khả năng tự sát cần được đặt dưới sự giám sát của các nhân viên.
Hung hăng và tức giận
  • Tất cả các bệnh nhân bị nhiễm độc thường được xem là có khuynh hướng bạo lực.
  • Các triệu chứng liên quan đến việc gia tăng nguy cơ bạo lực bao gồm ảo giác, hoang tưởng, lo lắng, trầm cảm.
  • Việc kiềm chế thân thể người bệnh chỉ nên được sử dụng như một phương án cuối cùng.

Đánh Giá Y Sinh Và Tâm Lý Học Xã Hội Bước Đầu

Những đánh giá ban đầu sẽ giúp nhân viên giải độc dự đoán những khả năng khiến tình trạng trầm uất ở người bệnh diễn tiến phức tạp. Sau đây là danh sách các đánh giá về y sinh học và tâm lý học xã hội có thể gây ảnh hưởng đến tình trạng ổn định của người bệnh:

Đánh giá y sinh học:
  • Tiền sử sức khoẻ tổng quát: Tiền sử bệnh hoặc giải phẫu? Có bất ổn nào về sức khoẻ hoặc tâm thần không? Có dị ứng với bất kỳ loại thuốc nào không? Có tiền sử về tai biến ngập máu không?
  • Trạng thái tinh thần: người bệnh có được chuẩn bị sẵn về mặt tâm lý không? Có cảnh giác không? Có hợp tác không? Suy nghĩ của người bệnh có thống nhất không? Có bất kỳ dấu hiệu nào của rối loạn tâm thần hoặc tư tưởng tiêu cực không?
  • Đánh giá thể chất tổng quát bằng hình thức kiểm tra thần kinh: loại hình kiểm tra này giúp xác minh tình trạng sức khoẻ tổng quát của người bệnh và xác định các rối loạn tâm thần và sức khoẻ cần sự chăm sóc tức thì.
  • Thân nhiệt, mạch, huyết áp (cần được kiểm tra trong suốt quá trình giải độc)
  • Những chi tiết về việc lạm dụng chất gây nghiện: người bệnh sử dụng chất gây nghiện lần cuối cùng khi nào? Lạm dụng loại chất gây nghiện nào? Lượng chất gây nghiện đã sử dụng, tần suất sử dụng là bao nhiêu?
  • Xét nghiệm sàng lọc nước tiểu và độc tố thông dụng trong lạm dụng chất gây nghiện.
  • Các điều trị lạm dụng chất gây nghiện hoặc quá trình giải độc đã từng tham gia trước đây
Đánh giá tâm lý học xã hội:
  • Đặc điểm nhân khẩu học: thu thập thông tin về giới tính, lứa tuổi, dân tộc, văn hoá, ngôn ngữ và trình độ giáo dục của người bệnh.
  • Điều kiện sống: người bệnh có phải là người vô gia cư hoặc đang sống trong các nhà tạm? Có các nguồn hỗ trợ sống cùng không? Nếu có họ có thể giám sát an toàn được không?
  • Nguy cơ bạo lực và tự sát: bệnh nhân có hung hăng không? Có chán nản không? Có mất hy vọng không? Bệnh nhân có tiền sử bạo lực không?
  • Vận chuyển: người bệnh có đầy đủ phương tiện để đến nơi hẹn không? Có cần bất kỳ sự thu xếp vấn đề nào khác không?
    Tình hình tài chính: người bệnh có khả năng chi trả tiền thuốc và thức ăn không? Người bệnh có việc làm và thu nhập đầy đủ không?
  • Trẻ em phụ thuộc: người bệnh có khả năng chăm sóc con cái, chăm lo cho chúng đầy đủ và đảm bảo sự an toàn cho chúng?
  • Tình trạng pháp lý: người bệnh có phải là thường trú hợp pháp không? Họ có các vấn đề pháp lý nào đang chờ giải quyết? Có phải điều trị theo lệnh toà án không?
  • Khuyết tật về thể chất, cảmgiác hoặc nhận thức: người bệnh có bất kỳ một khuyết tật nào cần được xem xét không?

Những Cân Nhắc Đối Với Những Nhóm Đặc Thù

Thanh thiếu niên
  • Thanh thiếu niên là những đối tượng có nhiều khả năng sử dụng một lượng lớn chất cồn chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Chính điều này làm cho các nhân viên cần phải cảnh giác khi thấy mức độ cồn trong máu cao.
  • Thanh thiếu niên có nhiều khả năng sử dụng những chất gây nghiện nhưng lại không thể xác minh được về các chất đó. Họ sử dụng kết hợp các chất gây nghiện này với chất cồn, dùng những chất gây nghiện không được xác minh và cũng không sẵn sàng tiết lộ việc họ sử dụng chất gây nghiện.
  • Việc sử dụng các câu hỏi mở và các thuật ngữ đường phố có thể có ích trong việc xây dựng quan hệ và nắm bắt được những thông tin về tiền sử sử dụng chất gây nghiện.
Cha mẹ có trẻ em phụ thuộc
  • Việc đảm bảo cho các trẻ em của những bệnh nhân tiếp nhận dịch vụ giải độc có một nơi an toàn để trú ngụ là cực kỳ quan trọng.
  • Trao đổi với người bệnh để biết được những người bạn hoặc gia đình hỗ trợ có thể giúp tìm ra nguồn hỗ trợ trông nom trẻ em tạm thời.
  • Khi việc chăm sóc trẻ em chưa được quyết định chắc chắn thì việc tư vấn hoặc giới thiệu đến các cơ sở điều trị của các dịch vụ xã hội trong khi người bệnh đang trong tiến trình giải độc sẽ được tiến hành theo chỉ định.
Những nạn nhân của bạo lực gia đình
  • Nhân viên cần nhận biết các dấu hiệu của việc bạo lực gia đình và sẵn sàng theo đuổi những thủ tục nhằm đảo bảo sự an toàn cho người bệnh.
  • Những nhân viên đã qua huấn luyện có thể giúp nạn nhân xây dựng một kế hoạch an toàn dài hạn hoặc ít nhất có thể giới thiệu họ tìm những nguồn hỗ trợ thích hợp.
  • Tất cả những thông tin bệnh nhân cung cấp bằng văn bản về bạo lực gia đình cần phải được nguỵ trang, và bệnh nhân không nên giữ những văn bản thông tin đó sau khi đã rời khỏi các cơ sở an toàn.
  • Trong suốt quá trình giải độc, điều quan trọng chính là đảm bảo việc những người bị lạm dụng không được phép trò chuyện với những người lạm dụng.
Người bệnh có văn hoá đa dạng
  • Sự nhạy cảm về văn hoá đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
  • Những mong đợi ở quá trình giải độc, những cảm nghĩ về hệ thống chăm sóc sức khoẻ nói chung, cấu trúc cộng đồng, xã hội sẽ khác biệt tuỳ theo xuất xứ văn hoá.
  • Các bác sĩ nên tránh việc xác định người bệnh dựa trên yếu tố văn hoá của họ. Ngoài ra việc nhấn mạnh quá mức hoặc dưới mức về chủng tộc hoặc dân tộc của người bệnh cũng có thể gây ra những tác hại.
  • Để biết thêm về danh sách các câu hỏi hướng dẫn bác sĩ hiểu rõ hơn về cấu trúc văn hóa của người bệnh, hãy xem sơ đồ 3-4 trong TIP 45.

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÚP BỆNH NHÂN THAM GIA VÀ HỒI PHỤC

Điều cần thiết các bác sĩ lâm sàng cần làm chính là gợi được ở người bệnh sự hy vọng và mong muốn hồi phục. Trong suốt quá trình giải độc, các nhân viên cần thống nhất trong nội dung trao đổi với người bệnh rằng giải độc chỉ là bước khởi đầu của quá trình điều trị và các hoạt động hồi phục và duy trì là cần thiết để đạt được sự hồi phục bền vững.

Giáo Dục Người Bệnh Về Diễn Tiến Trầm Uất

  • Trong suốt giai đoạn nhiễm độc và trầm uất, việc cung cấp các thông tin về diễn tiến trầm uất điển hình gây ra bởi việc lạm dụng các loại chất gây nghiện cụ thể là rất hữu ích.
  • Việc cung cấp thông tin liên quan đến các triệu chứng trầm uất có thể giúp làm giảm sự khó chịu cũng như khả năng người bệnh đơn phương chấm dứt việc giải độc trước thời hạn cho phép.
  • Những tiến trình thường xuyên gây ra trầm uất cho người bệnh cần có những tài liệu bằng văn bản đề cập đến các ảnh hưởng của thuốc và tình trạng trầm uất do các loại thuốc cụ thể gây ra. Những tài liệu này nên được công bố rộng rãi đặc biệt cho cả những bệnh nhân không biết tiếng anh.

Sử Dụng Hệ Thống Hỗ Trợ

  • Việc sử dụng những nguồn trợ giúp của người bệnh trong việc can thiệp vào ý định chấm dứt điều trị sớm là một phương pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy việc duy trì điều trị.
  • Những người đến thăm nên nhận được những hướng dẫn về tầm quan trọng của việc góp phần trợ giúp người bệnh giải độc và điều trị lạm dụng chất gây nghiện.
  • Nếu tình trạng đã ổn định và điều kiện cho phép, người bệnh có thể tham gia vào các chương trình 12 bước tại chỗ hoặc các buổi gặp gỡ với các nhóm hỗ trợ khác trong khi vẫn tiếp tục tiếp nhận dịch vụ giải độc.

Duy Trì Môi Trường Không Chất Gây Nghiện

  • Việc duy trì một môi trường an toàn không chất gây nghiện rất cần thiết để người bệnh gắn bó với quá trình giải độc
  • Những nhà cung cấp dịch vụ giải độc cần cảnh giác đối với hành vi tìm kiếm chất gây nghiện.
  • Khu vực dành cho khách đến thăm bệnh nhân nên bố trí thuận tiện cho việc giám sát của nhân viên.
  • Giải thích rõ cho người bệnh và khách đến thăm biết lý do tại sao không cho phép mang thuốc vào trong khuôn viên cơ sở.

Cân Nhắc Các Phương Pháp Thay Thế Và Thúc Đẩy Động Cơ

  • Mặc dù hiệu quả của các phương pháp thay thế vẫn chưa được chứng thực trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, tuy nhiên các liệu pháp thay thế đem bệnh nhân vào trong các quá trình giải độc và gắn kết họ với quá trình có thể có ích hơn các giá trị điều trị khác.
  • Việc thúc đẩy động cơ đặc biệt phù hợp trong việc tăng cường giai đoạn đầu của các hoạt động hồi phục và duy trì. Để biết thêm thông tin về việc thúc đẩy động cơ, hãy tham khảo thêm trong TIP 35 Tăng cường thúc đẩy sự thay đổi trong điều trị lạm dụng chất gây nghiện.

Thúc Đẩy Quan Hệ Trong Điều Trị

  • Mối quan hệ hỗ trợ, thông hiểu, không xét đoán giữa bác sĩ lâm sàng và người bệnh chính là dấu hiệu cho một quan hệ chặt chẽ trong điều trị.
  • Cần nỗ lực xây dựng mối quan hệ điều trị ngay từ khi bắt đầu tiến hành điều trị.

CÁC NGUỒN TRỢ GIÚP VÀ LIÊN HỆ

Một khi người bệnh đã vượt qua những triệu chứng trầm uất nghiêm trọng nhất và đạt được tình trạng ổn định và an toàn, việc can thiệp tâm lý ở giai đoạn này chuyển đổi thành việc chuẩn bị cho người bệnh sẵn sàng tham gia vào quá trình điều trị. Những can thiệp này bao gồm:

  • Đánh giá các đặc điểm tính cách, điểm mạnh và những tổn thương có thể ảnh hưởng đến những đề xuất cho việc điều trị lạm dụng chất gây nghiện.
  • Chuẩn bị cho người bệnh tham gia vào quá trình điều trị
  • Liên kết thành công người bệnh với quá trình điều trị cũng như các dịch vụ và các nguồn thông tin cần thiết khác.

Đánh Giá Nhu Cầu Hồi Phục Của Bệnh Nhân

Tiêu chí sắp xếp bệnh nhân, tái bản lần thứ hai, đã hiệu đính năm 2001 của Hội Y khoa về Nghiện ma tuý Hoa Kỳ đã đưa ra một mô hình được sử dụng rộng rãi trong việc xác định mức độ dịch vụ cần thiết để điều trị những rối loạn sử dụng chất gây nghiện. Những tiêu chí dùng để xác định chính xác nhất mức độ hồi phục của người bệnh được đưa ra dựa trên 6 hướng sau:

  1. Khả năng nhiễm độc và trầm uất cấp tính
  2. Tình trạng y sinh học và biến chứng
  3. Trạng thái cảm xúc, hành vi, nhận thức và những biến đổi
  4. Sẵn sàng để thay đổi
  5. Tái nghiện, tiếp tục sử dụng hoặc khả năng những khó khăn sẽ tiếp tục
  6. Hồi phục/môi trường sống

Chương trình giải độc nên tập trung đánh giá những vấn đề cần thiết để tạo được một mối liên hệ thích hợp với việc điều trị lạm dụng chất gây nghiện. Sau đây là những vấn đề cần tập trung đánh giá:

  • Tình trạng sức khoẻ và các biến chứng
  • Động cơ/sẵn sàng thay đổi
  • Những hạn chế về thể chất, cảm giác và di chuyển
  • Tiền sử và khả năng tái nghiện
  • Lạm dụng chất gây nghiện/lệ thuộc
  • Những vấn đề về phát triển và nhận thức
  • Hỗ trợ từ gia đình và xã hội
  • Rối loạn tâm thần đồng diễn
  • Trẻ em phụ thuộc
  • Thương tổn và bạo lực
  • Tiền sử điều trị
  • Nguồn gốc văn hóa
  • Điểm mạnh và các nguồn trợ giúp
  • Ngôn ngữ

Cung Cấp Những Liên Hệ Đến Các Hoạt Động Điều Trị Và Duy Trì

Nghiên cứu chỉ ra rằng người bệnh có nhiều khả năng tham gia và gắn bó với việc điều trị nếu họ tin chắc rằng sẽ có các dịch vụ hỗ trợ họ giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống. Sau đây là các phương pháp nhân viên giải độc có thể sử dụng để thúc đẩy người bệnh tham gia điều trị:

  • Tiến hành đánh giá mức độ khẩn cấp của việc điều trị.
  • Giảm lượng thời gian dành cho các cuộc điện thoại mở đầu để bắt đầu các buổi hẹn gặp.
  • Liên hệ với bệnh nhân để đặt lại lịch hẹn.
  • Cung cấp cho bệnh nhân những thông tin về những mong đợi ở giai đoạn đầu tiên.
  • Cung cấp những thông tin về bảo mật.
  • Đề nghị những ưu đãi cụ thể như viễn cảnh về việc cải thiện mối quan hệ với gia đình, bè bạn và nhân cách bản thân.
  • Lôi kéo sự hỗ trợ từ gia đình bệnh nhân
  • Giới thiệu bệnh nhân đến các tư vấn viên về các dịch vụ hồi phục
  • Đưa ra các dịch vụ giúp người bệnh giải quyết những nhu cầu cơ bản về nhà cửa, việc làm, chăm sóc trẻ em.
>>  Tập huấn nâng cao kỹ năng

SÀNG LỌC VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ MẶT SINH HỌC TÂM LÝ XÃ HỘI

Phần này sẽ bao gồm những đánh giá phức tạp về mặt tâm lý học xã hội và y sinh học. Những đánh giá này có thể tiến hành sau buổi tiếp xúc đầu tiên khi người bệnh trải qua quá trình giải độc. Danh sách sau đây sẽ liệt kê các công cụ hữu ích trong việc mô tả cường độ cụ thể tương ứng với từng trạng thái trầm uất

[table id=3 /]

Công Cụ Đánh Dấu Hoá Sinh Và Xét Nghiệm Chất Gây Nghiện

Công cụ đánh dấu hoá sinh là những kiểm tra được tiến hành trong phòng thí nghiệm nhằm phát hiện những thay đổi về mặt hoá sinh và sinh lý học có liên quan đến sự hiện diện hoặc vắng mặt của cồn hoặc các chất lạm dụng khác.

Xét nghiệm y khoa toàn diện về một chất cụ thể có thể xác định được lần sử dụng chất đó gần đây, mức độ sử dụng, hoặc có thể định lượng lần sử dụng tích luỹ gần đây. Xét nghiệm chất gây nghiện dùng trong pháp y hoặc tại nơi công sở không thể đánh đồng hoặc nhầm lẫn với các xét nghiệm nhạy bén hơn với quy mô toàn diện hơn trong xét nghiệm y khoa về chất gây nghiện.

Xét nghiệm y khoa về chất gây nghiện và việc kiểm tra đánh dấu hoá sinh là những thành tố thiết yếu trong đánh giá lâm sàng toàn diện.

Các công cụ đánh dấu hoá sinh và xét nghiệm chất gây nghiện thông thường được sử dụng như sau:

  1. Sử dụng trong các kiểm tra sàng lọc ban đầu nhằm hỗ trợ hoặc phản bác những thông tin để có được sự chẩn đoán, đánh giá và kiểm soát chính xác.
  2. Sử dụng cho mục đích pháp lý.
  3. Dùng để phát hiện các trường hợp bí mật hoặc ngầm sử dụng rượu và các chất khác trong các tiến trình trị liệu đòi hỏi việc tăng cường tiết chế, hồi phục và điều trị.

Có nhiều dạng khác nhau trong xét nghiệm chất gây nghiện và công cụ đánh dấu hoá sinh, bao gồm:

  • Lượng cồn trong máu
  • Mức độ cồn trong hơi thở
  • Kiểm tra sàng lọc chất gây nghiện bằng nước tiểu (bên cạnh việc sàng lọc được chất cồn, loại kiểm tra này rất hiệu quả trong việc phát hiện benzodiazepines, barbiturates, cocaine, amphetamines, opioids, and PCP)
  • Kiểm tra nồng độ Gamma-glutamyltransferase (GGT)
  • Thử nghiệm Carbohydrate-deficient transferrin
  • Phép đo trung bình lượng hồng cầu Mean corpuscular volume (MCV)
  • Chuyển hoá rượu
  • Kiểm tra độc tính chất gây nghiện đối với các dạng đặc thù và tổng quát của thuốc phiện, thuốc kích thích, thuốc gây ảo giác, benzodiazepine, barbiturate, cần sa, các loại chất gây nghiện khác và các loại chất gây nghiện pha trộn khác (ví dụ như: aspirin và acetaminophen)

CÁC DỊCH VỤ GIẢI ĐỘC ĐỐI VỚI TỪNG LOẠI LẠM DỤNG CHẤT GÂY NGHIỆN CỤ THỂ

Nhiễm Độc Rượu Và Trầm Uất

Những triệu chứng nhiễm độc rượu sau đây có thể khác biệt đáng kể so với mức liều lượng của bệnh nhân Mức độ cồn trong máu từ 20 đến 100 mg phần trăm

  • Thay đổi tâm trạng và hành vi
  • Giảm phối hợp
  • Suy yếu khả năng lái xe hay vận hành máy móc
  • Mức độ cồn trong máu từ 101 đến 200 mg phần trăm
  • Giảm sự phối hợp của hầu hết các hoạt động
  • Suy yếu khả năng diễn đạt lời nói
  • Khó khăn trong đi lại
  • Suy yếu tổng thể về tư duy và phán xét
  • Buồn ngủ, hành vi hung hăng hoặc “tâm thần”
  • Trạng thái tinh thần “bình thường”

Mức độ cồn trong máu là 201-300mg phần trăm

  • Đánh dấu sự suy yếu về suy nghĩ, trí nhớ, và phối hợp
  • Đánh dấu sự giảm mức độ tỉnh táo
  • Bộ nhớ ngưng hoạt động
  • Buồn nôn và ói mửa/hít thở mạnh

Mức độ cồn trong máu là 301-400mg phần trăm

  • Các triệu chứng trên nhưng cường độ nặng hơn kèm theo giảm nhiệt độ cơ thể và huyết áp
  • Buồn ngủ cao độ/hôn mê
  • Mất trí nhớ
  • Buồn nôn và ói mửa/hít thở mạnh
  • Chết

Mức độ rượu trong máu là 401-800mg phần trăm

  • Khó đánh thức bệnh nhân (hôn mê)
  • Mạch, nhiệt độ, huyết áp, và tốc độ thở giảm nghiêm trọng
  • Không kiềm chế tiết niệu và ruột
  • Chết

Các dấu hiệu và triệu chứng của trầm uất cấp tính thường bắt đầu trong khoảng từ 6 đến 24 giờ sau lần uống rượu cuối cùng. Trầm uất cấp tính có thể bắt đầu trong khi nồng độ rượu trong máu bệnh nhân vẫn còn đáng kể. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm những điều sau đây và có thể có sự khác biệt lớn:

  • Bồn chồn, cáu gắt, lo lắng, kích động
  • Chán ăn, buồn nôn, ói mửa
  • Rét run, tăng nhịp tim, tăng huyết áp
  • Mất ngủ, ác mộng, cường độ mơ cao
  • Thiếu tập trung, suy giảm trí nhớ và phán xét
  • Tăng nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng, và cảm giác xúc giác
  • Ảo giác (về thính giác, thị giác, hoặc xúc giác)
  • Ảo ảnh, thường là giống hoang tưởng hoặc hoang tưởng truy hại
  • Tai biến ngập máu cơn lớn
  • Tăng thân nhiệt
  • Mê sảng/mất phương hướng về thời gian, địa điểm, người, và tình hình; mức độ ý thức dao động
Kiểm soát trầm uất không dùng thuốc
  • Việc chỉ định kiểm soát trầm uất không dùng thuốc vẫn chưa được được thiết lập thông qua các nghiên cứu khoa học hoặc các phương pháp biện chứng.
  • Các quá trình trầm uất là không thể dự đoán trước nghĩa là không thể nói ai sẽ bị hoặc không bị các biến chứng đe dọa tính mạng.
  • Các khía cạnh tích cực của phương pháp không dùng thuốc là hiệu quả chi phí rất cao và cung cấp các tiếp cận không tốn kém để giải độc cho các bệnh nhân tìm kiếm viện trợ.
Giải độc xã hội

Các chương trình giải độc xã hội là những dịch vụ ngắn hạn, không dùng thuốc dành cho bệnh nhân rối loạn sử dụng chất gây nghiện. Một chương trình cai nghiện xã hội cung cấp các phòng, ban, và sự hỗ trợ lẫn nhau dành cho các bệnh nhân bị nhiễm độc và bệnh nhân bị trầm uất do sử dụng chất gây nghiện. Các chương trình giải độc xã hội cung cấp các loại dịch vụ khác nhau, tuy nhiên các dịch vụ đó phải luôn luôn được giám sát y tế, bao gồm việc xem sét các dấu hiệu quan trọng.

TIP cung cấp một vài hướng dẫn sau đây cho các chương trình giải độc xã hội:

  • Các chương trình phải tuân thủ những quy định của chính quyền địa phương về cấp phép và thanh tra.
  • Các bệnh nhân tham gia giải độc xã hội được đánh giá bởi các bác sĩ chăm sóc ban đầu có kinh nghiệm trong điều trị lạm dụng chất gây nghiện.
  • Khi đánh giá cần xem xét những vấn đề có thể cần đến sự chăm sóc đặc biệt chẳng hạn như liệu bệnh nhân có bị nhiễm độc hay không, mức độ nhiễm độc, các triệu chứng trầm uất, mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm uất, thông tin liên quan đến tình trạng trầm uất đã từng xảy ra trước đó, có bệnh lý tâm thần đồng diễn hay không, tình trạng tinh thần và sức khỏe.
  • Nên dành sự chăm sóc đặc biệt cho những bệnh nhân đã trải qua nhiều lần trầm uất trước đó và cho những bệnh nhân có diễn biến trầm uất ngày càng trầm trọng hơn sau mỗi lần xuất hiện (gọi là “hiệu ứng củi mồi”). Bệnh nhân có tiền sử trầm uất nghiêm trọng không thích hợp tham gia giải độc xã hội.
  • Tất cả các chương trình giải độc xã hội cần có những nhân viên quen thuộc với các đặc tính của tình trạng trầm uất trong sử dụng chất gây nghiện, đã qua đào tạo cơ bản về hỗ trợ cuộc sống, và có thể tiếp cận hệ thống cấp cứu khi cần cung cấp phương tiện vận chuyển đến những nơi cần cấp cứu.
Kiểm soát trầm uất có dùng thuốc

Mọi người tin rằng chỉ một thiểu số những bệnh nhân nghiện rượu sẽ gặp phải tình trạng trầm uất nghiêm trọng cần đến sự hỗ trợ về y tế. Đôi khi việc xác định nhóm thiểu số đó cũng có những khó khăn. Tuy nhiên luôn có những dấu hiệu và triệu chứng của các vấn đề sắp xảy ra cảnh báo cho người chăm sóc biết để tìm kiếm sự chăm sóc y tế.

Việc xác định có hoặc không có sử dụng thuốc cho các trường hợp trầm uất đòi hỏi phải phân loại bệnh nhân theo ba nhóm sau:

  1. Những bệnh nhân có tiền sử về tình trạng trầm uất nghiêm trọng nhất chẳng hạn như bị tai biến ngập máu và/hoặc mê sảng. Nhóm này cần được điều trị bằng thuốc càng sớm càng tốt.
  2. Bệnh nhân đã từng bị trầm uất nhưng chỉ vớicác triệu chứng vừa phải. Nhóm này cũng cần dùng thuốc ngay lập tức.
  3. Nhóm thứ ba bao gồm những bệnh nhân vẫn đang trong tình trạng bị nhiễm độc, hoặc những bệnh nhân mới chỉ ngưng lạm dụng chất gây nghiện trong khoảng một vài giờ tính đến thời điểm bắt đầu và vẫn chưa có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng trầm uất nào. Việc quyết định có dùng thuốc trong điều trị cho nhóm này hay không cần căn cứ vào tiến độ tuổi, số năm nghiện rượu, cũng như số lần trầm uất nghiêm trọng đã được hoặc không được điều trị trước đó. Nếu có cơ hội quan sát các bệnh nhân trong vòng từ 6 đến 8 giờ đồng hồ tiếp theo, thì việc đưa ra quyết định liên quan đến điều trị có thể hoãn lại và định kỳ tái đánh giá lại một bệnh nhân thuộc nhóm này.
Điều trị benzodiazepine trong trầm uất

Những thuốc này vẫn là thuốc được lựa chọn trong điều trị trầm uất. Các dấu hiệu đầu tiên của trầm uất và việc tăng cường sử dụng benzodiazepine phù hợp sẽ giúp ngăn chặn các phản ứng trầm uất tiếp theo diễn tiến thành những hậu quả nghiêm trọng.

Sử dụng benzodiazepine liều tăng dần

Việc sử dụng benzodiazepine chuyển hóa có thể được thực hiện mỗi 1 đến 2 giờ cho đến khi những cải thiện lâm sàng quan trọng xuất hiện hoặc đến khi bệnh nhân dịu lại.

Thông thường, bệnh nhân mắc trầm uất nghiêm trọng có thể dùng 20mg diazepam hoặc 100mg chlordiazepoxide mỗi 2 đến 3 giờ cho đến khi tình trạng cải thiện hoặc dịu lại. Nhân viên điều trị cần thường xuyên kiểm tra huyết áp, mạch và hô hấp của bệnh nhân.

Liệu pháp triệu chứng kích hoạt

Bằng cách sử dụng thang đo CIWA – Ar hoặc các thang đo mức độ trầm uất khác, các nhân viên y tế có thể được đào tạo để nhận biết các dấu hiệu của trầm uất, đánh giá mức độ và căn cứ vào mức độ đó để phát benzodiazepine cho bệnh nhân chỉ khi các dấu hiệu và triệu chứng đạt đến một ngưỡng nào đó. Sau đây là một điển hình: 50mg chlordiazepoxide với mức CIWA – Ar > 9 sau đó đánh giá lại sau 1 giờ. Tiếp tục phát 50mg chlordiazepoxide mỗi giờ cho đến khi mức CIWA-Ar là <10.

Liều giảm dần

Khi tình trạng bệnh nhân đã ổn định, có thể cho họ dùng benzodiazepine dạng uống theo liều đã được chỉ định trước trong vòng vài ngày và sau đó giảm dần theo thời gian. Sau đây là một ví dụ của phác đồ trên, bệnh nhân có thể nhận được 50mg chlordiazepoxide hoặc 10mg diazepam mỗi 6 giờ trong ngày đầu điều trị và sau đó là 25mg chlordiazepoxide hoặc 5 mg diazepam mỗi 6 giờ trong ngày thứ hai và thứ ba.

Phác đồ liều đơn theo ngày

Theo các nghiên cứu, phác đồ này được sử dụng nhiều trong các loại hình giải độc xã hội hoặc cộng đồng, đặc biệt khi bệnh nhân có thể được giám sát giữa các liều.

Những hạn chế benzodiazepine trong điều trị ngoại trú

Sự tương tác giữa benzodiazepine và chất cồn có thể dẫn đến tình trạng hôn mê và ức chế hô hấp, không phối hợp hoạt động, và lạm dụng. Lạm dụng xảy ra khi có sự sử dụng đồng thời chất cồn, thuốc ngủ opioid, và các chất kích thích. Ngoài các tình trạng trên, loại điều trị này có 2 hạn chế sau:

  • Mặc dù benzodiazepine đã được nghiên cứu trong 30 năm và có hiệu quả trong kiểm soát tình trạng trầm uất, tuy nhiên khả năng ngăn chặn sự tiến triển xấu đi của những lần trầm uât kế tiếp vẫn còn là một nghi vấn.
  • Việc sử dụng benzodiazepine để điều trị trầm uất cho bệnh nhân ngoại trú có thể “tạo điều kiện” cho họ tái sử dụng chất cồn trong quá trình uống thuốc.
Các loại thuốc khác

Dưới đây là danh mục các loại thuốc đôi khi vẫn dùng trong giải độc chất cồn:

  • Barbiturate
  • Thuốc chống co giật anticonvulsant
  • Beta blockers/alpha adrenergic agonist
  • Thuốc chống loạn thần antipsychotic
  • Các loại thuốc ngăn ngừa tái nghiện
Kiểm soát tình trạng mê sảng và tai biến ngập máu

Mục tiêu chính của việc giải độc y tế là tránh tình trạng tai biến ngập máu và một mê sảng đặc biệt gọi là cuồng sảng rượu cấp viết tắt là DTs bằng cách sử dụng các thuốc giải độc chính với cường độ cao. Nếu không được chăm sóc y tế, tình trạng tai biến ngập máu và cuồng sảng rượu cấp có thể gây chết người hoặc bại liệt.
Đối với những bệnh nhân có tiền sử về tai biến ngập máu hoặc cuồng sảng rượu cấp, cần được chỉ định điều trị sớm bằng benzodiazepine ngay từ giai đoạn lâm sàng đầu tiên. Đối với trường hợp bệnh nhân trầm uất nghiêm trọng, đã từng trải qua vài lần giải độc (trên 3 lần), thể trạng không ổn định, có bệnh lý tâm thần đồng diễn cũng cần được kiểm soát tương tự.

DTs

Không nên trì hoãn cung cấp benzodiazepine cho bệnh nhân vì lý do chờ đợi kết quả thử nghiệm, vấn đề giao thông, hoặc chờ giường trống trong bệnh viện.

  • Một khi DTs đã phát triển đầy đủ thì việc kiểm soát bằng thuốc sẽ không còn tác dụng ngăn chặn.
  • Bệnh nhân trong tình trạng DTs nặng nên được vận chuyển y tế khẩn cấp đến một phòng cấp cứu chuyên nghiệp và thông thường cần phải nhập viện.
Tai biến ngập máu
  • Tai biến ngập máu thường xảy ra trong vòng 48 giờ đầu sau khi giảm hoặc ngưng uống rượu, với tỷ lệ mắc cao điểm trong khoảng 24 giờ.
  • Những người đã từng bị tình trạng tai biến ngập máu thường có nguy cơ lớn hơn chuyển biến thành DTs, ngược lại ít có khả năng một bệnh nhân đã bị DTs sau đó lại gặp tình trạng tai biến ngập máu.
  • Tai biến ngập máu thường xảy ra nhanh chóng, thường không có bất kỳ cảnh báo nào ngay cả đối với những người đã từng bị trước đó hoặc bất cứ người nào xung quanh.
  • Không thể đưa ra những dự đoán chắc chắn về việc những người nào sẽ mắc tình trạng tai biến ngập máu trong quá trình trầm uất.
  • Bệnh nhân bị tai biến ngập máu có thể được điều trị bằng tiêm tĩnh mạch, viết tắt là IV diazepam hoặc lorazepam và các phác đồ hỗ trợ ngưng tim và hồi phục tiên tiến.
  • Bệnh nhân đã từng một lần bị bắt gặp hoặc nghi ngờ tai biến ngập máu phải được ngay lập tức điều trị benzodiazepine, tốt nhất là bằng cách tiêm tĩnh mạch.
  • Nhiễm độc benzodiazepine và/hoặc barbiturat cần phải được xử lý và đánh giá khác nhau. Việc kết hợp giữa hai chất này với nhau hoặc với chất cồn có khả năng gây ra tình trạng trầm uất đe dọa tính mạng. (Để biết thêm thông tin, hãy xem mục Nhiễm độc và trầm uất do benzodiazepine và các loại thuốc an thần, thuốc ngủ khác trong cuốn Hướng dẫn nhanh này).
Hội chứng Wernicke-Korsakoff
  • Hội chứng Wernicke-Korsakoff bao gồm bệnh não Wernicke và rối loạn tâm thần Korsakoff.
  • Bệnh não Wernicke là một rối loạn thần kinh cấp tính có rối loạn chức năng chuyển động mắt (liệt dây thần kinh số 6 hai bên, tê liệt cơ mắt), mất điều hòa (mất sự phối hợp cơ), nhầm lẫn, và đuối sức.
  • Rối loạn tâm thần Korsakoff là một trạng thái thần kinh mãn tính bao gồm thoái hoá trí nhớ về sau và về trước (việc thoái hoá chủ yếu trong việc học điều mới và nhớ những điều xảy ra lâu) cùng với việc hư cấu (bệnh nhân tạo dựng những câu chuyện bù vào những khoảng trống trong bộ nhớ).
  • Cả hai hội chứng có liên quan đến thiếu hụt vitamin B1
  • Vitamin B1 ban đầu được cho thông qua đường tiêu hoá (thông qua cách khác hơn là thông qua đường tiêu hóa, như bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp). Sau đó, uống là cách lựa chọn trong điều trị.
  • Luôn luôn cung cấp vitamin B1 trước gluco.

Nhiễm độc opioid và trầm uất

Thuốc ngủ opioid có khả năng gây nghiện cao. Việc sử dụng opioid kinh niên có thể dẫn đến các triệu chứng trầm uất, mặc dù không gây nguy hiểm về sức khoẻ nhưng có thể làm cho người bệnh không thoải mái và cảm thấy rất khó chịu

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc opioid và trầm uất

Các dấu hiệu của nhiễm độc opioid

  • Mạch chậm
  • Huyết áp thấp
  • Hạ thân nhiệt
  • Buồn ngủ
  • Co đồng tử
  • Chuyển động chậm
  • Nói lắp bắp
  • Đầu gà gật
Các triệu chứng của nhiễm độc opioid
  • Cảm giác phấn khích
  • Đau dữ dội
  • Trầm tĩnh
Các dấu hiệu của trầm uất opioid
  • Mạch đập nhanh
  • Huyết áp cao
  • Thân nhiệt cao
  • Mất ngủ
  • Dãn đồng tử
  • Phản xạ cao bất thường
  • Ra mồ hôi
  • Sởn gai ốc
  • Tăng nhịp hô hấp
  • Chảy nước mắt (như khóc)
  • Ngáp
  • Chảy nước mũi
  • Co thắt cơ bắp
Các triệu chứng của trầm uất opioid
  • Đau bụng
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa
  • Tiêu chảy
  • Đau xương và cơ
  • Lo lắng

Các biến chứng y khoa liên quan đến trầm uất opioid có thể phát triển và cần được nhanh chóng xác định và điều trị. Không giống như trầm uất rượu và thuốc an thần, trầm uất opioid không biến chứng không đe dọa đến tính mạng.

Kiểm soát trầm uất không dùng thuốc

Các bác sĩ lâm sàng được khuyến cáo không nên cố gắng kiểm soát các triệu chứng trầm uất opioid nghiêm trọng mà không có các yếu tố trung gian giải độc hiệu quả sẽ được nêu trong phần tới. Thậm chí ngay cả mức độ sử dụng opioid nhẹ thông thường có thể gây ra những triệu chứng trầm uất không dễ chịu cho người bệnh. Kiểm soát trầm uất không dùng thuốc có thể gây ra những ảnh hưởng không cần thiết cho một nhóm bệnh nhân có khả năng chịu đựng các cơn đau về thể xác hạn chế.

Kiểm soát trầm uất có dùng thuốc

Việc kiểm soát trầm uất có dùng thuốc thường có tác dụng với các loại thuốc như methadone, buprenorphine hoặc clonidine.

Methadone

Methadone là loại hoóc môn agonist có tác dụng kéo dài của thụ thể μ opioid. Methadone được dùng thay thế heroin (hoặc các opioid khác) và tái ổn định thụ thể opioid, từ đó đảo ngược các triệu chứng trầm uất opioid.

  • Nếu duy trì đủ lâu, hiệu ứng ổn định này có thể đảo ngược những khiếm khuyết trong miễn dịch và nội tiết do sử dụng ma túy lâu dài.
  • Các yêu cầu của liều methadone ban đầu được xác định dựa trên việc định lượng opioid đã sử dụng và đo phản ứng của bệnh nhân khi dùng methadone.
  • Methadone có thể dùng một lần mỗi ngày và thường giảm dần trong 3 đến 5 ngày với lượng thuốc từ 5 đến 10mg cũng được giảm hàng ngày.
  • Để biết thông tin chi tiết về duy trì methadone, người đọc tham khảo thêm trong TIP 43, Điều trị có hỗ trợ y tế đối với nghiện các chất Opioid trong chương trình điều trị Opioid.
Clonidine (Catapres)

Sau đây là các ưu thế khi sử dụng clonidine trong điều trị trầm uất opioid hơn so với sử dụng methadone:

  • Clonidine không gây nhiễm độc opioid và không gia tăng
  • FDA không phân loại clonidine là có tiềm năng gây lạm dụng, mặc dù đã có một số trường hợp lạm dụng đã được báo cáo.
  • Giải độc với clonidine không cần các chất opioid.
  • Không cần phải có giấy phép đặc biệt để có thể chỉ định dùng loại thuốc này.

Mặc dù clonidine giảm bớt một số triệu chứng trầm uất opioid, nhưng thường tương đối không hiệu quả đối với chứng mất ngủ, đau nhức cơ bắp, và thèm thuốc.

Một phác đồ thích hợp cho clonidine là uống 0,1 mg như là một liều thử nghiệm. Đối với bệnh nhân có dấu hiệu trầm uất nghiêm trọng hoặc nặng hơn 200 kg, có thể dùng một liều ban đầu 0,2 mg. Có thể cho bệnh nhân dùng thuốc bằng cách đặt dưới lưỡi. Các bác sĩ nên kiểm tra huyết áp của bệnh nhân trước khi cho thuốc và không nên chỉ định clonidine nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 90 hoặc huyết áp tâm trương dưới 60.

Clonidin (0,1 đến 0,2 mg bằng cách uống) có thể dùng mỗi 4 đến 6 giờ nếu cần thiết. Giải độc clonidine tốt nhất nên thực hiện đối với bệnh nhân nội trú bởi vì các dấu hiệu quan trọng và tác dụng phụ có thể được theo dõi chặt chẽ hơn trong môi trường này.

Buprenorphine
  • Buprenorphine là một là loại hooc môn agonist của một phần thụ thể μ opioid. Gần đây Buprenorphine dưới dạng tiêm đã được sự chấp thuận của FDA như một trung gian giải độc và điều trị duy trì opioid.
  • Buprenorphine có sẵn dạng uống gọi là subutex, dành cho bệnh nhân bắt đầu điều trị lệ thuộc thuốc.
  • Suboxone, một dạng uống của buprenorphine có chứa buprenorphine và naltrexone, được chỉ định cho người lệ thuộc opioid, đã bắt đầu và đang tiếp tục liệu pháp điều trị.
  • Một lợi thế của buprenorphine là an toàn. Bởi vì là một phần thụ thể opioid nên buprenorphine có tác dụng trần và hiếm khi gây ra quá liều. Ngoài ra, buprenorphine có thể được dùng trong phòng mạch của bác sĩ.
  • Để biết thêm thông tin về buprenorphine, xem TIP 40, Hướng dẫn dành cho bác sĩ lâm sàng trong việc sử dụng Buprenorphine trong điều trị nghiện các chất Opioid.

Nhiễm độc và trầm uất benzodiazepine và các thuốc ngủ, an thần khác

Bệnh nhân nhiễm độc thuốc ngủ và thuốc an thần có những triệu chứng tương tự như nhiễm độc cồn chẳng hạn như các triệu chứng nổi bật sau nói lắp bắp, mất điều hoà, phối hợp cơ thể kém. Nếu chỉ sử dụng một mình benzodiazepine một cách có chủ định hoặc vô ý sử dụng quá liều thì khả năng tử vong ít khi xảy ra. Tuy nhiên, một số người thường sử dụng benzodiazepine kèm với các chất khác như cồn, thuốc an thần, thuốc ngủ, hoặc các loại chất gây nghiện khác. Việc kết hợp benzodiazepine và các chất trên có thể gây tử vong nếu không được kiểm soát hợp lý.

Một số điểm chung về trầm uất
  • Việc kiểm soát sử dụng quá liều đối với benzodiazepine và các thuốc an thần, thuốc ngủ khác được hỗ trợ một phần bởi các nguyên tắc dưới đây về các phương pháp hỗ trợ ngưng tim và hồi phục tiên tiến, đặc biệt là hỗ trợ hô hấp thông khí.
  • Việc loại bỏ benzodiazepine khỏi đường ruột và dạ dày thường được thực hiện với phương pháp xúc rửa hoặc thuốc tẩy nhẹ khi tình trạng quá liều xảy ra gần đây.
  • Flumazenil (romazicon) là một agonist cạnh tranh hấp thu benzodiazepine, nên nó có tác dụng đảo ngược các tác dụng an thần và quá liều của benzodiazepine nhưng không tác dụng với cồn và các thuốc an thần, thuốc ngủ.
  • Việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tiết chế benzodiazepine và các thuốc an thần, thuốc ngủ khác chủ yếu căn vứ vào thông tin từ người bệnh, các nguồn trợ giúp và kết quả đánh giá thể lực.
Kiểm soát trầm uất có dùng thuốc
  • Một trong những cách kiểm soát thích hợp chính là bắt đầu giảm dần sử dụng loại benzodiazepine người bệnh đang dùng. Việc giảm dần này có thể tiến hành trong vòng vài tuần hoặc thậm chí vài tháng.
  • Có thể điều trị bằng cách thay đổi loại benzodiazepine đối với những bệnh nhân có những vấn đề nghiêm trọng với các chất trung gian bước đầu.
  • Việc chuyển sang loại benzodiazepine có thời gian tiêu thụ nửa liều lâu như chlorodiazepoxide và clonazepam có thể mang lại hiệu quả.
  • Việc chuyển sang loại barbiturate có tác dụng lâu như phenobarbital có thể mang lại hiệu quả.
  • Một loạt các kỹ thuật nhận thức và hành vi đã được đề xuất để hỗ trợ việc giảm thuốc.
  • Thuốc chống co giật như carbamazepin và valproate, cũng như thuốc chống trầm cảm gây êm dịu như trazodone và imipramine, được ủng hộ sử dụng trong điều trị liên quan đến trầm uất.
  • Trong suốt thời gian áp lực bên ngoài thấp, khi bệnh nhân cam kết giảm dần và có một kế hoạch kiểm soát những rối loạn lo âu ngầm thì việc chuẩn bị để họ giải độc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải độc.

Nhiễm Độc Và Trầm Uất Cocaine, Methamphetamine Và Các Chất Kích Thích Khác

Cocaine và amphetamine (ví dụ như methamphetamine) là những chất kích thích hệ thần kinh trung tâm thường hay bị lạm dụng nhất. Một vài người lệ thuộc vào các chất kích thích thường mất khả năng kiểm soát đáng kể khi sử dụng thuốc, có lẽ để đáp ứng với sự kích thích và sự gián đoạn của các trung tâm củng cố nội sinh. Việc sử dụng đồng thời cocaine và chất cồn có thể gây ra ngưng tim thứ phát do hợp chất cooethylene. Những bệnh nhân nhiễm độc cocaine và ethanol có thể cần được giám sát những thay đổi trong khoảng QT.

Triệu chứng trầm uất chất kích thích
  • Trầm cảm
  • Ngủ liệm hoặc mất ngủ
  • Mệt mỏi
  • Lo lắng
  • Cáu gắt
  • Thiếu tập trung
  • Suy yếu tâm thần vận động
  • Hoang tưởng
  • Thèm thuốc

Trong khi hầu hết các bác sĩ lâm sàng tin rằng trầm uất chất cồn, benzodiazepine, barbiturate, và thuốc phiện nên được giải độc mức độ cao, tuy nhiên có một vài nhấn mạnh nhỏ về triệu chứng điều trị trầm uất chất kích thích. Vẫn chưa có bất kỳ loại thuốc nào được nghiên cứu về vấn đề này. Phương thức hiệu quả nhất trong điều trị trầm uất chất kích thích bao gồm tạo dựng một khoảng thời gian tiết chế đối với những chất trung gian này.

Những biến chứng y khoa của trầm uất chất kích thích
  • Trầm uất chất kích thích không thường xuyên liên quan đến các biến chứng y khoa.
  • Trong khi cả cocaine và các amphetamine (ví dụ như methamphetamine) thường gây trầm cảm trong suốt thời kỳ trầm uất, đặc biệt người sử dụng amphetamine thường bị trầm cảm kéo dài và mức độ nghiêm trọng hơn. Chính vì thế, người sử dụng amphetamine nên được giám sát kỹ hơn trong quá trình giải độc nhằm phát hiện những dấu hiệu tự sát và điều trị trầm cảm nếu thích hợp.
  • Một vài bệnh nhân sử dụng cocaine và chất cồn trong thời gian gần đây có thể bị những biến chứng liên tục về tim bao gồm khoảng QT kéo dài, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim trong suốt quá trình tạo thành hợp chất cocoethylene.
  • Tai biến ngập máu cũng là một biến chứng của lạm dụng chất kích thích có thể xảy ra trong suốt quá trình giải độc.
Kiểm soát trầm uất có dùng thuốc

Mặc dù chưa có bất kỳ loại thuốc nào được chứng thực trong điều trị trầm uất chất kích thích, tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã đầu tư vào các loại thuốc giải độc cocaine sau đây:

  • Disulfiram và amantadine có thể giúp giảm sử dụng cocaine ở bệnh nhân có các triệu chứng trầm uất nghiêm trọng hơn.
  • Modafinil, một chất trung gian chống chứng ngủ rũ với tác dụng tương tự chất kích thích, hiện đang được xem xét bởi một nhóm nghiên cứu như là một trung gian giải độc cocaine.
  • Thuốc chống trầm cảm có thể được chỉ định đối với các chứng trầm cảm thường đi kèm với methamphetamine hoặc trầm uất chất kích thích.

Nhiễm độc và trầm uất Inhalants và Solvents

Từ “inhalants” là thuật ngữ dùng để mô tả một nhóm lớn và đa dạng các chất tác động đến thần kinh. Tất cả các chất trong nhóm này có các đặc điểm chung là được sử dụng dưới dạng hít để có tác dụng.

Các loại inhalant thường bị lạm dụng

Sau đây là danh sách các nhóm inhalant thường bị lạm dụng và ví dụ của chúng.

Chất kết dính

  • Keo airplane
  • Những xi măng đặc biệt

Bình xịt

  • Sơn phun
  • Xịt tóc
  • Khử mùi/làm mát không khí
  • Phun giảm đau
  • Bình xịt hen suyễn

Thuốc gây tê

  • Dạng khí
  • Dạng lỏng
  • Gây tê tại chỗ

Chất làm sạch

  • Giặt khô
  • Chất tẩy vết bẩn
  • Dung dịch tẩy dầu degreasers

Dung môi và chất khí

  • Chất tẩy sơn móng tay
  • Chất tẩy sơn
  • Chất pha loãng sơn
  • Dung dịch xoá
  • Nhiên liệu khí
  • Bật lửa
  • Bình chữa cháy

Sản phẩm thực phẩm

  • Kem sữa béo
  • Whippet
Trầm uất inhalants
  • Việc lệ thuộc vào inhalant và các triệu chứng trầm uất sau đó tương đối không phải là hiện tượng phổ biến.
  • Không có những đặc tính hoặc các triệu chứng trầm uất cụ thể nào đặc trưng cho tất cả các loại thuốc trong nhóm inhalant.
  • Không có một công cụ đánh giá cụ thể sẵn có nào để xem xét các triệu chứng trầm uất inhalant.
  • Hầu hết các inhalant gây nhiễm độc thần kinh về nhận thức, động cơ, và sự tham gia của các giác quan.
  • Đã có một số tổn hại đến các cơ quan nội tạng như tim, phổi, thận, gan, tuyến tụy, và tuỷ xương đã được ghi nhận.
Kiểm soát trầm uất
  • Việc cung cấp cho người bệnh một môi trường an toàn tránh xa việc tiếp cận inhalant là rất cần thiết.
  • Việc trầm uất inhalant rất hiếm khi xảy ra, vì thế bác sĩ lâm sàng cần nhanh chóng xác định xem liệu bệnh nhân có lạm dụng loại chất nào khác không từ đó tiến hành giải độc thích hợp theo các chỉ định lâm sàng.
  • Không có bất kỳ một phác đồ giải độc nào riêng cho trầm uất inhalant

Nhiễm Độc Và Trầm Uất Nicotine

Việc lệ thuộc nicotine do hút thuốc lá gây ra xấp xỉ 450.000 ca tử vong hằng năm, nhiều hơn so với số ca tử vong do AIDS, rượu, cocaine, heroin, giết người, tự sát, tai nạn giao thông và hoả hoạn tổng hợp lại. Những người hút thuốc lá có nguy cơ gia tăng các vấn đề về y tế ví dụ như ung thư, bệnh khí thũng, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phế quản mãn tính, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, cao huyết áp, đột quỵ và bệnh mạch máu ngoại biên

Triệu chứng trầm uất liên quan đến nicotine

Sau đây là các triệu chứng trầm uất nicotine được miêu tả trong tài liệu Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, sửa đổi lần 4(DSM-IV-TR) (2000):

  • Việc ngừng sử dụng nicotine đột ngột, hoặc giảm số lượng, sau đó trong vòng 24 giờ xuất hiện bốn hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau đây:
    • Khó chịu hoặc tâm trạng chán nản
    • Mất ngủ
    • Cáu gắt, bực bội, hay tức giận
    • Lo lắng
    • Khó tập trung
    • Bồn chồn
    • Giảm nhịp tim
    • Tăng sự thèm ăn hoặc tăng cân
  • Những triệu chứng này gây ra những tổn hại lâm sàng nghiêm trọng hoặc những suy yếu các chức năng xã hội, nghề nghiệp, hoặc khía cạnh quan trọng khác.
  • Các triệu chứng này không phải do một điều kiện y tế nói chung gây ra cũng như không phải do một chứng rối loạn tâm thần.

Đối với những cân nhắc về chẩn đoán trong DSM-IV-TR, hãy tham khảo sơ đồ 4-9 trong TIP 45

Đánh Giá Mức Độ Nghiêm Trọng

Từ năm 1978, một công cụ tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá mức độ lệ thuộc thể chất vào nicotine chính là bảng câu hỏi tám mục về liều lượng Fagerstrom (FTQ).

Một phiên bản sau này được gọi là Kiểm tra Fagerstrom đối với lệ thuộc Nicotine (FTND) đã được giảm chỉ còn lại sáu câu hỏi. Các phiên bản sáu câu hỏi xuất hiện trong sơ đồ 4-10 của TIP 45.

Bảng câu hỏi hành vi hút thuốc Glover-Nilsson (GN-SBQ) bao gồm trong 11 câu hỏi, là một sự tự kiểm tra nhằm đánh giá ảnh hưởng của những hành vi và nghi thức liên quan đến hút thuốc lá. Bảng câu hỏi được thiết kế để trợ giúp trong việc xác định và định lượng các khía cạnh hành vi của việc hút thuốc đóng vai trò trong việc duy trì sự lệ thuộc vào nicotine. Nhờ đó các bác sĩ phát triển một phương pháp giúp người bệnh ngưng hút thuốc. Các GNSBQ xuất hiện trong sơ đồ 4-11 của TIP 45.

Các biến chứng y khoa của trầm uất nicotine

Trầm uất nicotine về bản chất không có những biến chứng lớn. Tuy nhiên, bệnh nhân thường xuyên trải qua những triệu chứng khó chịu trong vòng một vài giờ không sử dụng. Một số các triệu chứng như lo âu, cáu gắt, trầm cảm, và những triệu chứng khác có thể bị nhầm lẫn là những tình trạng về tâm thần khác.

Trong suốt quá trình giải độc nicotine, một số loại thuốc sẽ có sự biến đổi trong trao đổi chất, bao gồm:

  • Theophylline
  • Caffeine
  • Tacrine
  • Imipramine
  • Haloperidol
  • Pentazocine
  • Propranolol
  • Flecainide
  • Estradiol
Kiểm soát trầm uất không dùng thuốc

Hướng dẫn thực hành lâm sàng trong điều trị sử dụng và lệ thuộc thuốc lá (2000) của Trung tâm Sức khoẻ Cộng đồng Hoa Kỳ là một đánh giá toàn diện bằng văn bản về việc ngưng hút thuốc. Những can thiệp không dùng thuốc được thảo luận trong hướng dẫn trên có thể được chia thành 2 loại sau: tự can thiệp và can thiệp hành vi.

Kiểm soát trầm uất có dùng thuốc

Một uỷ ban của Trung tâm Sức khoẻ Cộng đồng Hoa Kỳ đã đưa ra những đề nghị các bác sĩ chăm sóc ban đầu nên kê những loại thuốc có tác dụng đã được chứng thực nhằm giúp các bệnh nhân hút thuốc muốn từ bỏ có thể ngưng hút thuốc. Sau đây là các loại thuốc có thể sử dụng cho những bệnh nhân muốn bỏ thuốc.

Liệu pháp thay thế nicotine (NRT)

Kẹo cao su cai nghiện thuốc lá nicotine polaxrilex đã được chứng thực bởi FDA vào năm 1984. Những năm thập niên 1990, một số loại NTR khác đã được FDA chấp thuận trong đó gồm có miếng dán nicotine thẩm thấu qua da, bình xịt mũi nicotine, ống hít nicotine. Sau giai đoạn trầm uất cấp tính, bệnh nhân sẽ được tiến hành cai nghiện bằng thuốc cho đến khi họ không còn lệ thuộc vào nicotine. Hiển nhiên là ngoài nicotine các thành phần chất khác trong thuốc lá cũng góp phần gây ra ung thư. Tính cho đến thời điểm hiện nay, việc sử dụng liệu pháp thay thế nicotine trong thời gian dài vẫn chưa gây ra bất kỳ ảnh hưởng xấu nào đến sức khoẻ .

Bupropion SR

Công dụng chính xác của bupropion SR hiện vẫn chưa được làm rõ, nhưng đó không phải là một dạng thay thế nicotine hoặc liệu pháp thay thế giống như NRTs. Liều khuyến cáo là 150mg mỗi ngày trong 3 ngày và sau đó là 150mg hai lần mỗi ngày trong từ 7 đến 12 tuần. Thông thường bệnh nhân xác định ngày dứt hút thuốc vào thời điểm 1 đến 2 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc. Đây là thời gian lý tưởng cho các bệnh nhân tập trung vào việc thay đổi hành vi và tranh thủ hỗ trợ xã hội để củng cố nổ lực bỏ thuốc lá.

Các liệu pháp dùng thuốc không nicotine

Hiện nay một số loại thuốc đang được xem xét về hiệu quả trong việc hỗ trợ cai thuốc lá, trong đó bao gồm:

  • Các agonist alpha-2 ngăn hạ huyết áp, clonidine
  • Các thuốc chống trầm cảm ba vòng, nortriptyline
  • Các chất ức chế chống trầm cảm monoamine oxidase (MAOI), moclobemide
  • Các thuốc giải toả lo âu 5-HT1A serotonin agonist, buspirone
  • Các thụ thể thần kinh trung ương nicotine ngăn hạ huyết áp, mecamylamine
  • Thuốc viên uống dextrose

Mặc dù các loại thuốc trung gian nêu trên vẫn chưa được FDA chấp thuận trong việc cai thuốc, nhưng các loại thuốc như clonidine, nortriptyline, và moclobemide được nhận thấy có hiệu quả trong điều trị.

Những liệu pháp phối hợp thuốc

Các sản phẩm NRT thường cung cấp lượng nicotine chỉ bằng một nửa so với lượng nicotine do hút thuốc. Một số thử nghiệm lâm sàng đã xem xét khả năng phối hợp nhiều loại NTR nhằm tăng lượng nicotine. Các thử nghiệm đã có những bằng chứng tương đối vững chắc để có thể kết luận rằng kết hợp nhiều loại NTR sẽ cho hiệu quả hơn việc chỉ sử dụng một dạng thay thế nicotine đơn lẻ.

Nhiễm độc và trầm uất anabolic steroids

Anabolic steroid là những hoóc môn nam bị lạm dụng như một phương tiện làm tăng khối lượng cơ. Các chất trung gian này có thể khiến người sử dụng trở nên hung bạo, có những hành vi cuồng loạn, có thể bao gồm ảo tưởng.

Những triệu chứng trầm uất liên quan đến steroid
  • Các triệu chứng trầm uất bao gồm thèm muốn steroid nhiều hơn, mệt mỏi, trầm cảm, bồn chồn, chán ăn, mất ngủ, ham muốn tình dục giảm, đau đầu và buồn nôn.
  • Tần suất xảy ra hội chứng này hiện vẫn chưa xác định được, nhưng trầm uất steroid có nhiều khả năng xuất hiện ở người nghiện nặng.
Các biến chứng y khoa của trầm uất steroid
  • Do chịu tác dụng trong thời gian dài của anabolic steroid, tác dụng phụ có thể xuất hiện nhanh chóng và không thể bị đảo ngược nhanh bằng cách ngưng sử dụng.
  • Các tác dụng phụ khác có thể cần đến các sự kiểm soát khác bên cạnh khuyến cáo đơn giản là ngay lập tức ngưng sử dụng steroid. Hiện vẫn chưa có phác đồ giải độc nào được đề nghị, do đó mục tiêu y tế chính là ngưng sử dụng steroid.

Nhiễm Độc Và Trầm Uất Các Loại Thuốc Câu Lạc Bộ

Thuốc câu lạc bộ là các loại thuốc bất hợp pháp được sử dụng trong các câu lạc bộ đêm, câu lạc bộ khiêu vũ, các buổi liên hoan và tiệc suốt đêm. Việc sử dụng các loại thuốc này trong các thanh thiếu niên và thanh niên đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Mặc dù hội chứng trầm uất với một số loại thuốc này đã được báo cáo, tuy nhiên đây không phải là vấn đề lâm sàng phổ biến nhất. Việc nhiễm độc và nhiễm độc nghiêm trọng do quá liều xảy ra thường xuyên hơn.

Các chất gây ảo giác
  • Chất gây ảo giác là một nhóm lớn các chất có thể gây ra những bất thường về cảm giác và ảo giác.
  • Chất gây ảo giác được biết như những chất tạo cảm giác lâng lâng và hưng phấn bao gồm LSD, mescaline, MDMA, MDA, và DOM.
  • Các tác động nổi bật trong thời gian nhiễm độc là biến dạng cảm giác với ảo tưởng và ảo giác; biến dạng hình ảnh phổ
  • biến hơn so với những biến dạng về thính giác hay xúc giác.
  • “Ảo giác tồi” bao gồm cảm giác lo lắng trong đó có hoảng loạn, phản ứng hoang tưởng, giận dữ, bạo lực, và bốc đồng.
  • Hội chứng trầm uất với các chất gây ảo giác vẫn chưa được ghi nhận.
  • Nhiễm độc cấp tính và các ảo giác tồi thường có thể được kiểm soát bằng cách để người bệnh trong một môi trường yên tĩnh, không kích thích, có sự giám sát trực tiếp tức thời để họ không gây tổn hại cho chính mình hoặc cho người khác.
Gamma-hydroxybutyrate (GHB)
  • Nhiễm độc GHB có thể biểu hiện giống như nhiễm độc rượu hoặc thuốc an thần, thuốc ngủ. Đã có các báo cáo về các trường hợp trầm uất GHB.
  • Kiểm soát trầm uất được tiến hành với sự hỗ trợ chăm sóc và với các benzodiazepin ví dụ như lorazepam.
Ecstasy (thuốc lắc)
  • Bệnh nhân sử dụng thuốc lắc (MDMA) hoặc các hợp chất liên quan thường xuyên hiếu động và nói nhiều, có ghi nhận về gia tăng cảm giác xúc giác và thị giác.
  • Các tình trạng như thân nhiệt tăng, mất nước, nước nhiễm độc với tiêu cơ vân natri thấp, suy thận, loạn nhịp tim, và hôn mê đã được báo cáo.
  • Bác sĩ lâm sàng có khả năng kiểm soát các biến chứng do nhiễm độc và quá liều không kèm theo trầm uất.
Ketamine và PCP (Phencyclidine)
  • Triệu chứng trầm uất PCP bao gồm trầm cảm, thèm thuốc, tăng sự thèm ăn, và ngủ nhiều.
  • Về mặt lâm sàng, hội chứng nhiễm độc cấp tính gồm có ảo giác, kích động, và bạo lực được xem là những vấn đề cấp bách nhất.
  • Về mặt lâm sàng, ketamine và PCP đòi hỏi sự kiểm soát đối với kích động và các tính năng tâm thần khi sử dụng quá nhiều. Kiểm soát cần sử dụng các thuốc gây êm dịu như benzodiazepin bằng cách uống hoặc dùng ngoài đường tiêu hoá.
  • Đôi khi bệnh nhân sẽ dùng quá liều như miêu tả ở trên do đó họ sẽ cần được kiểm soát đường thở và thông khí hỗ trợ trong một vài giờ.