Đổi mới công tác cai nghiện ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH

 VÀ XÃ HỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do –  Hạnh phúc

   

Hà Nội, ngày  27  tháng 12  năm 2013

ĐỀ ÁN

Đổi mi công tác cai nghin ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020

 

Phần 1
CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN

CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY

 

  1. TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TÚY VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN TRÊN THẾ GIỚI
  2. Tình hình nghiện ma túy

Theo Báo cáo về tình hình ma túy thế giới năm 2012 của Chương trình kiểm soát tội phạm và ma túy của Liên hiệp quốc (UNODC)[1], ước tính năm 2010 trên toàn cầu có 230 triệu người sử dụng ma túy, trong đó 27 triệu người có vấn đề nghiêm trọng do sử dụng ma túy; 200.000 người tử vong hàng năm do sử dụng heroin, cocain và các loại ma túy khác. Trong số, người tiêm chích ma túy khoảng 20% nhiễm HIV, 46,7% mắc viêm gan C và 14,6% mắc viêm gan B, tạo thêm gánh nặng về bệnh tật cho toàn cầu; khoảng 1/100 ca tử vong ở người lớn là do sử dụng ma túy bất hợp pháp[2]. Tình hình sử dụng và nghiện ma túy ngày càng diễn biến phức tạp bất chấp các nỗ lực kiểm soát ma túy. Trong khi sử dụng Heroin tăng lên ở châu Á và châu Phi thì sử dụng ma túy tổng hợp tăng lên ở châu Âu.

  1. Điều trị nghiện ma túy

Các quốc gia trên thế giới hiện cũng đang tìm kiếm các biện pháp điều trị nghiện hiệu quả. Việc áp dụng biện pháp nào phụ thuộc vào quan điểm nhìn nhận về hành vi sử dụng ma túy và nghiện ma túy. Từ nhiều thập kỷ trước, do thiếu các bằng chứng khoa học về cơ chế tác động của ma túy lên người nghiện và do nhận thức nghiện ma túy gắn liền với nguy cơ vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức và quan hệ xã hội. Người ta cho rằng để chữa trị, cai nghiện, giải pháp đơn giản là tách người nghiện ra khỏi môi trường có ma túy một thời gian họ sẽ hết nghiện, dẫn đến nhiều nước đã áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở khép kín (Trung tâm).

Bằng việc cách ly khỏi cộng đồng, mô hình điều trị nghiện bắt buộc được nhìn nhận là góp phần đảm bảo trật tự xã hội và làm giảm tội phạm liên quan đến ma túy. Tuy nhiên mô hình cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở khép kín này có nhiều hạn chế như tỉ lệ tái nghiện cao (trên 90%), tốn kém, không đảm bảo các dịch vụ y tế, xã hội, thiếu các dịch vụ hỗ trợ xã hội khác như vấn đề học nghề, tìm việc làm v. v. Làm hạn chế cơ hội tái hội nhập cộng đồng của người nghiện. Đồng thời còn làm tăng nguy cơ lây truyền HIV, viêm gan, lao tại các Trung tâm và tại cả cộng đồng[3]. Theo UNODC và WHO, không có bằng chứng về hiệu quả của hình thức điều trị bắt buộc so sánh với điều trị tự nguyện dựa vào cộng đồng.

  1. Cơ chế tác động của ma túy lên cơ thể người

Người bình thường, dưới vỏ não sản xuất ra Dopamine điều hòa vận động, cảm xúc, nhận thức, và mang lại cảm giác thích thú. Khi sử dụng ma túy, chất ma túy tác động trực tiếp hay gián tiếp lên các tế bào thần kinh, gây tăng tiết Dopamine lên nhiều lần, tạo nên cảm giác hưng phấn, tỉnh táo, khoan khoái, làm giảm đau, hết mệt mỏi một cách nhân tạo. Nếu sử dụng ma túy lặp lại nhiều lần sẽ tạo thành phản xạ có điều kiện, gây rối loạn sản xuất Dopamine của não. Não sẽ ngừng sản xuất Dopamine làm cho cơ thể hoàn toàn phụ thuộc vào chất ma túy, vì vậy, cơ thể luôn luôn thôi thúc người nghiện tìm và sử dụng ma túy[4]. Đây là lý do giải thích tại sao người ta rất khó bỏ ma túy, và việc tái nghiện thường xảy ra trong quá trình điều trị; người nghiện có thể phải mất nhiều năm cố gắng mới từ bỏ được ma túy.

Những hiểu biết khoa học trên đây cho thấy ma túy tác động đến cả não bộ và hành vi của người nghiện đó là cơ sở quan trọng cho các phương pháp điều trị nghiện ma túy.

  1. Khái niệm về nghiện ma túy
  2. a) Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Nghiện ma túy là tình trạng nhiễm độc mãn tính hay chu kỳ do sử dụng nhiều lần chất ma túy, với những đặc điểm cơ bản là:

– Không cưỡng lại được nhu cầu sử dụng ma túy và sẽ tìm mọi cách để có ma túy;

– Liều dùng tăng dần;

– Lệ thuộc chất ma tuý cả về thể chất và tâm thần (lệ thuộc kép).

  1. b) Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA): Nghiện là các hội chứng gồm tăng liều ma túy để có tác dụng mong muốn, sử dụng ma túy để giảm hội chứng thiếu thuốc, không có khả năng giảm liều hoặc ngừng sử dụng ma túy và tiếp tục sử dụng ma túy mặc dù biết nó có hại cho bản thân và những người khác.
  2. c) Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng và nghiện ma túy (NIDA): Nghiện là một bệnh não mạn tính, tái phát làm cho người nghiện buộc phải tìm và sử dụng ma túy, bất chấp các hậu quả đối với họ và những người xung quanh.

Nghiện được coi là bệnh não vì nó làm thay đổi cấu trúc não bộ và cơ chế hoạt động của não. Sự thay đổi ở não bộ thường kéo dài làm người sử dụng không tự kiểm soát được bản thân, mất khả năng cưỡng lại sự thèm muốn sử dụng ma túy và có các hành vi có hại cho sức khỏe và cộng đồng.

  1. Từ điều trị nghiện bắt buộc đến tiếp cận giảm hại – Thay đổi về chính sách liên quan đến xử lý hành vi sử dụng ma túy.

Các quốc gia thường giống nhau trong việc xử phạt rất nặng tội buôn bán ma túy và các tội phạm bạo lực liên quan đến ma túy, nhưng lại khác nhau trong việc xử phạt người sử dụng ma túy và việc tàng trữ ma túy cho mục đích sử dụng cá nhân. Sự thất bại của các chính sách kiểm soát ma túy đã dẫn đến những thay đổi quan trọng, trong đó nhiều quốc gia đã không coi sử dụng ma túy là hành vi phạm pháp từ những năm 1970; một số nước cũng không xử lý hình sự việc tàng trữ một lượng nhỏ ma túy cho sử dụng cá nhân[5].

Những quốc gia áp dụng hình phạt nặng với tội danh tàng trữ ma túy cho mục đích cá nhân thường có số người nghiện ma túy lớn trong tù, làm tăng chi phí xã hội. Tiếp cận này không làm giảm tình trạng sử dụng ma túy ở cộng đồng, khi so sánh với các quốc gia không xử phạt nặng tội danh này. Một số nước hệ thống tư pháp nhìn nhận việc lệ thuộc vào ma túy là tình tiết giảm nhẹ cho các tội danh khác liên quan đến ma túy, và áp mức xử nhẹ hơn so với những người không lệ thuộc vào ma túy, nhất là nếu họ chuẩn bị điều trị nghiện[6].

Với các tiến bộ về dược học và hiểu biết khoa học về điều trị nghiện ma túy, cùng với thất bại của biện pháp xử phạt hành chính đối với người nghiện ma túy, nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy đã thúc đẩy một số quốc gia xem xét lại chính sách cai nghiện ma túy theo hướng chuyển từ cai nghiện bắt buộc tập trung sang tiếp cận giảm hại và dựa vào cộng đồng. Việc điều trị bao gồm hỗ trợ tâm lý, xã hội và điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Những nước áp dụng mô hình can thiệp giảm hại sớm thường mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc ngăn chặn sự lây lan của HIV/AIDS, giảm tội phạm. Cụ thể như:

Tại Hồng Kong[7]

Với mục tiêu làm giảm tỉ lệ tội phạm và giảm tác hại của ma túy lên cộng động, Hồng Kông đã thí điểm sử dụng methadon điều trị cho người nghiện chất dạng thuốc phiện từ năm 1972. Thành công của chương trình này đã giúp Hồng Kong chuyển đổi từ cai nghiện bắt buộc, tập trung sang điều trị tự nguyện tại cộng đồng, và chuyển đổi hàng loạt cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều trị thay thế bằng methadon đã giúp giảm tỉ lệ tội phạm từ 26% trước điều trị xuống còn 4% sau khi điều trị bằng methadon; 70% những người điều trị methadon có việc làm và sống ổn định và đặc biệt là tỉ lệ nhiễm HIV rất thấp (dưới 0,5%) ở những người điều trị methadon và giúp duy trì tỉ lệ nhiễm HIV dưới 1% ở những người tiêm chích ma túy. Với mức chi phí 23 đô la Hồng Kong mỗi tháng/người điều trị, chương trình methadon đã mang lại lợi ích kinh tế rất lớn. Các đánh giá cho thấy cứ 1 đô la dành cho điều trị thay thế bằng methadon và giảm hại tại cộng đồng sẽ tiết kiệm 7 đô la cho việc tăng cường luật pháp, chăm sóc và điều trị y tế.

 Tại Malaysia

Là một đât nước có số người nghiện ma túy tương đương 1,1% dân số, Malaysia đã áp dụng các chính sách cứng rắn với các tội danh liên quan đến ma túy, bao gồm cả hành vi sử dụng ma túy. Đạo luật về lệ thuộc vào ma túy năm 1983 đặt nền móng cho việc ra đời 29 Trung tâm cai nghiện bắt buộc trải khắp đất nước. Người có xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy sẽ phải trải qua quá trình chữa trị trong các Trung tâm với thời gian 2 năm và bị quản lý sau cai thêm 2 năm tại cộng đồng[8]. Các Trung tâm áp dụng nhiều biện pháp gồm giáo dục về tư tưởng, học nghề, rèn luyện thể lực và can thiệp về tâm lý xã hội. Thời gian trong các trung tâm cai nghiện được chia ra làm bốn giai đoạn gồm cắt cơn giải độc và phục hồi sức khỏe, học nghề, lao động và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Sau gần 30 năm, Malaysia đã không thành công với phương pháp cai nghiện phục hồi tại các Trung tâm này. Tỷ lệ tái nghiện trong năm đầu tiên sau khi ra khỏi Trung tâm lên đến 90%, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy không giảm (40%)[9].

Từ năm 2006, đặc biệt từ năm 2010, Malaysia đã chuyển đổi mô hình Trung tâm bắt buộc sang hệ thống các Cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, tại cộng đồng. Với nguyên tắc của điều trị là tự nguyện, không phán xét và đáp ứng theo nhu cầu của từng cá nhân. Các trung tâm cung cấp các dịch vụ đa dạng, bảo mật, với thủ tục đăng ký đơn giản. Chương trình điều trị bỏ lệ thuộc ma túy và chương trình điều trị thay thế bằng methadon được thực hiện theo nhu cầu bệnh nhân, trong đó, tỷ lệ bệnh nhân tham gia chương trình Mathadone chiếm 80%. Bên cạnh các cơ sở tự nguyện điều trị nội trú, ngoại trú do nhà nước thành lập và vận hành, Chính phủ Malaysia có chính sách hỗ trợ chi phí vận hành cho các cơ sở chăm sóc, hỗ trợ ban ngày, do các tổ chức cá nhân thành lập. Qua đó tăng cường tiếp cận người nghiện thông qua hỗ trợ sinh hoạt cá nhân, tư vấn, giới thiệu, kết nối dịch vụ điều trị nghiện. Đến tháng 10/2012, Malaysia đã chuyển đổi được 12/29 trung tâm cai nghiện bắt buộc sang tự nguyện. Ở các trung tâm chuyển đổi sang điều trị nghiện tự nguyện, số bệnh nhân tiếp cận dịch vụ điều trị tăng 5 lần và số nhân viên giảm 45,5% (từ 110 người xuống còn 60 người)[10].

 Tại Australia

Trước nguy cơ bùng phát HIV vì tỉ lệ dùng chung bơm kim tiêm (BKT) cao ở nhóm nghiện chích ma túy (IDU) 71% vào năm 1986, Australia đã quyết định thực hiện chương trình giảm hại. Mục tiêu chiến lược của Australia là sức khỏe cộng đồng, giảm hại thông qua điều trị bằng thuốc methadon, Bupenophine, phân phát bơm kim tiêm và bao cao su. Ước tính riêng chương trình BKT đã phòng lây nhiễm HIV cho 25,000 người tiêm chích ma túy trong khoảng thời gian từ năm 1988 – 2000. Tỉ lệ người tiêm chích ma túy nhiễm HIV chỉ chiếm 8% tổng số người nhiễm HIV vào năm 200412

Từ năm 1980, Australia không truy tố hình sự đối với một số hành vi vi phạm pháp ở người nghiện nếu họ tự nguyện tham gia chương trình điều trị nghiện. Bên cạnh đó, Chính phủ Australia rất quan tâm đến chiến lược dự phòng, chứ không chỉ là điều trị, các kết quả đánh giá cũng đưa ra kết luận, 1USD đầu tư cho chương trình methadon sẽ tiết kiệm được 7-9 USD chi phí cho cho tăng cường luật pháp, chăm sóc y tế và điều trị tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc11.

  1. Lợi ích của điều trị nghiện ma túy tại cộng đồng

Kinh nghiệm nhiều quốc gia cho thấy điều trị nghiện tại cộng đồng mang lại lợi ích to lớn cho cả bản thân người nghiện, gia đình và cộng đồng trên các khía cạnh:

– Bảo vệ sức khỏe người nghiện và cộng đồng, đặc biệt là góp phần phòng ngừa và làm giảm sự lây lan HIV, viêm gan C, viêm gan B và lao;

– Tiết kiêm chi phí: mỗi đô la sử dụng cho điều trị nghiện ma túy sẽ tiết kiệm[11] 4 – 7 đô la cho các chi phí liên quan đến tội phạm, chăm sóc y tế và giảm năng xuất lao động; các chương trình điều trị ngoại trú có thể làm lợi hơn 12 lần so với số tiền chi phí cho điều trị ma túy tập trung, bắt buộc; mỗi đô la chi tiêu cho điều trị nghiện tại cộng đồng sẽ tiết kiệm cho xã hội 18,5 đô la chi tiêu liên quan đến ma túy;

– Tăng cơ hội việc làm cho người nghiện, giảm tỉ lệ thất nghiệp;

– Giảm tỉ lệ tội phạm và cải thiện rõ rệt trật tự an toàn xã hội.

  1. Các nguyên tắc trong điều trị nghiện ma túy

WHO và UNODC đồng thuận khuyến nghị các quốc gia thực hiện 9 nguyên tắc trong điều trị nghiện ma tuý[12], bao gồm:

– Tính sẵn có và dễ tiếp cận của chương trình điều trị: các dịch vụ điều trị cần sẵn có, dễ tiếp cận với chi phí hợp lý và dựa vào bằng chứng để cung cấp các dịch vụ chất lượng phù hợp cho mọi người cần hỗ trợ;

– Sàng lọc, đánh giá, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị: đánh giá toàn diện, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị cho từng cá nhân thông qua việc đáp ứng các nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân, giúp bệnh nhân tham gia chủ động vào quá trình điều trị;

– Điều trị dựa trên bằng chứng: những bài học thành công và những kiến thức khoa học về điều trị lệ thuộc ma túy cần được áp dụng trong các can thiệp;

– Đảm bảo quyền con người và phẩm hạnh của bệnh nhân: các can thiệp điều trị cần tuân theo các quy định về quyền con người, dựa trên cơ sở tự nguyện và cung cấp các dịch vụ y tế và sức khoẻ tốt nhất;

– Tập trung vào các nhóm đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt: nhiều nhóm cần sự chú ý đặc biệt như nhóm vị thành niên, phụ nữ (gồm phụ nữ có thai), người đang mắc các rối loạn đồng diễn (tâm trí hoặc thể chất), người bán dâm, người dân tộc thiểu số và người vô gia cư;

– Điều trị lệ thuộc và hệ thống tư pháp: sự lệ thuộc ma tuý cần được xem như một vấn đề sức khỏe và những người lệ thuộc ma tuý cần được điều trị trong hệ thống y tế thay vì hệ thống tư pháp, trong đó điều trị tại cộng đồng nên thay thế cho hình thức bắt buộc tập trung;

– Sự tham gia của cộng đồng và định hướng bệnh nhân: Các đáp ứng dựa vào cộng đồng đối với lạm dụng và lệ thuộc vào ma túy có thể khuyến khích sự thay đổi ở cộng đồng, sự tham gia tích cực của các bên liên quan và hỗ trợ cho các mô hình tài trợ cộng đồng;

– Quản lý (lâm sàng) các dịch vụ điều trị: Các dịch vụ điều trị cần xác định rõ các chính sách, hướng dẫn điều trị, các chương trình, các qui trình, xác định vai trò và trách nhiệm chuyên môn, giám sát và các nguồn lực tài chính;

– Hệ thống điều trị – phát triển chính sách, kế hoạch chiến lược và điều phối các dịch vụ: Cần thiết phải có một hệ thống chính sách ở cấp cao đối với vấn đề rối loạn sử dụng chất cho các cá nhân có nhu cầu điều trị, cũng như một trình tự hợp lý và từng bước để kết nối giữa chính sách với việc lập kế hoạch điều trị và triển khai, giám sát và đánh giá.

WHO cũng đồng thời khuyến nghị một chương trình điều trị hiệu quả là chương trình giảm cung, giảm cầu ma túy, kiểm soát được cơn thèm nhớ ma túy, phục hồi được các mối quan hệ với gia đình và xã hội, tăng cơ hội việc làm, giảm bệnh tật (Lao, HIV) và giảm tử vong, giảm các đe dọa tới sức khỏe cộng đồng. Điều trị tại cộng đồng là biện pháp cần được ưu tiên và nhấn mạnh tới việc tôn trọng quyền được chăm sóc sức khoẻ của mỗi cá nhân để đảm bảo quá trình điều trị có hiệu quả lâu dài.

UNODC và WHO cũng cho rằng sự sẵn có các biện pháp điều trị hiêu quả với chi phí hợp lý và đảm bảo quyền con người, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng về y tế và xã hội của người nghiện ma túy tại cộng đồng sẽ khuyến khích người nghiện tự nguyện điều trị. Điều trị và phục hồi phải đi kèm các hoạt động sinh kế để đảm bảo rằng người nghiện có thể tự đảm bảo được cuộc sống và giảm nguy cơ tái nghiện. Chất lượng, hoạt động và hiệu quả là những nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách hàng của các chương trình điều trị nghiện ma túy. Chất lượng điều trị được cấu thành bởi nhiều yếu tố như hạ tầng, có đủ số cán bộ có trình độ và kỹ năng, có các qui định rõ ràng về thuốc điều trị, sự đa dạng các phương pháp điều trị, sự thân thiện với khách hàng[13].

Ngoài các khuyến cáo của WHO và UNODC, Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng và nghiện ma túy cũng cho rằng điều trị có thể giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng, tránh tái nghiện, và phục hồi thành công, và đưa ra Các nguyên tắc điều trị nghiện ma túy hiệu quả như sau:

– Nghiện ma túy là bệnh phức tạp ảnh hưởng đến các chức năng của não và đến hành vi nhưng là bệnh có thể chữa được;

– Không có biện pháp điều trị nào phù hợp với tất cả mọi người, cần đa dạng các phương pháp điều trị;

– Đảm bảo người bệnh sẵn sàng điều trị;

– Điều trị hiệu quả phải chú ý đến nhu cầu đa dạng của người bệnh, không phải chỉ có vấn đề nghiện ma túy;

– Tuân thủ điều trị trong một thời gian đủ dài có vai trò quan trọng;

– Tham vấn cá nhân hoặc tham vấn nhóm và các liệu pháp hành vi khác là những hình thức điều trị nghiện ma túy phổ biến nhất;

– Thuốc hỗ trợ là thành phần quan trọng đối với nhiều người, đặc biệt là khi phối hợp với tham vấn và các liệu pháp hành vi;

– Việc điều trị cho một cá nhân và kế hoạch dịch vụ cần được đánh giá và sửa đổi thường xuyên để đảm bảo rằng nó đáp ứng với sự thay đổi nhu cầu của người bệnh;

– Nhiều người nghiện ma túy có cả các rối loạn tâm thần khác;

– Hỗ trợ cắt cơn bằng thuốc chỉ là giai đoạn đầu tiên của quá trình điều trị nghiện ma túy và nó có vai trò rất nhỏ để thay đổi việc lạm dụng ma túy về lâu dài;

– Việc điều trị hiệu quả không nhất thiết phải là tự nguyện;

– Cần giám sát việc sử dụng ma túy trong quá trình điều trị vì tái nghiện thường xảy ra trong quá trình điều trị;

– Các chương trình điều trị cần đánh giá tình trạng HIV/AIDS, viêm gan B và C, lao và các bệnh nhiễm khuẩn khác, đồng thời cung cấp dịch vụ tham vấn giảm nguy cơ để giúp người bệnh điều chỉnh hoặc thay đổi hành vi giúp họ dự phòng lây truyền bệnh.

  1. TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TÚY VÀ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI VIỆT NAM
  2. Tình hình nghiện ma túy

Theo số liệu của Bộ Công an, tính đến tháng 6/2013 cả nước có 180.783 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng hơn 3 lần (180.783/55.445) với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm. Người nghiện ma túy đã được phát hiện ở 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước[14].

Tình hình sử dụng ma túy có nhiều thay đổi phức tạp về loại ma túy và hình thức sử dụng. Hơn 10 năm trước đây đa số người nghiện sử dụng thuốc phiện, hiện nay có tới 84,7% người nghiện ở Việt Nam chủ yếu sử dụng heroin. Người nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine – ATS (ma túy tổng hợp) chiếm 6,5%, còn lại sử dụng cần sa, tân dược và các loại ma túy khác[15]. Mặc dù tỷ lệ người nghiện các chất ATS hiện còn thấp so với tỷ lệ nghiện heroin nhưng theo đánh giá của Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của Liên hợp quốc (UNODC), việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam. Cách thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi. Năm 1995 chỉ có chưa đến 8% số người nghiện tiêm chích ma túy, hiện nay số người tiêm chích ma túy chiếm tới 72,67% tổng số người nghiện ma túy của cả nước. Theo số liệu của Bộ Y tế, nhóm người nghiện chích ma túy chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số người nhiễm HIV tại Việt Nam 37,4% và số người tử vong do sốc quá liều khoảng 1.600 người/năm[16].

Ngoài ra, khoảng 50% người nghiện đã có các vấn đề về sức khỏe tâm thần và thể chất, 38% đã có tiền án hoặc tiền sự [17].

Với tốc độ gia số người nghiện hàng năm như hiện nay thì ước tính đến năm 2020 cả nước sẽ có khoảng 250.000 người nghiện ma túy, trong đó nghiện Heroine 150.000 người và nghiện ma túy tổng hợp là 100.000 người.

  1. Các phương pháp cai nghiện ma túy ở nước ta

Phương pháp cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay đối với người nghiện ma túy dạng thuốc phiện được thực hiện theo quy trình do liên Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn, gồm điều trị cắt cơn, giải độc; giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu; học văn hóa, học nghề; lao động sản xuất và hội nhập cộng đồng.

Về các bài thuốc hỗ trợ cắt cơn nghiện chất dạng thuốc phiện do Bộ Y tế hướng dẫn như: hỗ trợ cắt cơn bằng thuốc hướng thần, thuốc Bông Sen, Cedemex, CAMAT và phương pháp điện châm. Ngoài ra còn điều trị chống tái nghiện ma túy nhóm có nguồn gốc thuốc phiện bằng thuốc đối kháng Natrexone.

Từ năm 2008, Bộ Y tế đã thí điểm điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadon, mục tiêu chính nhằm giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy.

Việc sử dụng thuốc methadon trong điều trị thay thế đã dẫn tới 2 phương thức điều trị và có sự khác biệt rõ rệt.

– Phương pháp điều trị truyền thống theo hướng dẫn của liên Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và Bộ Y tế nhằm điều trị hỗ trợ để chấm dứt sự phụ thuộc vào ma túy và kết quả được đánh giá thông qua tỷ lệ tái nghiện.

– Phương pháp sử dụng thuốc methadon không nhằm xóa bỏ trạng thái phụ thuộc vào ma túy của người nghiện mà bằng thay thế ma túy bất hợp pháp bằng loại thuốc hợp pháp. Mục tiêu của phương pháp thay thế là nhằm giảm tình trạng sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, giảm tội phạm liên quan đến sử dụng ma túy và cải thiện chất lượng cuộc sống của người sử dụng ma túy.

Cùng với việc điều trị bằng thuốc, các biện pháp hỗ trợ xã hội thông qua hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện ma túy, các liệu pháp tâm lý, tư vấn dự phòng nghiện, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp tâm lý gia đình, liệu pháp nhận thức hành vi…đang được thực hiện ở nhiều địa phương thông qua các dự án hợp tác quốc tế với PEPFAR, UNODC.

Như vậy, phương pháp và mục tiêu điều trị nghiện ma túy ở nước ta đang có những thay đổi, bao gồm điều trị giúp từ bỏ sự phụ thuộc và điều trị duy trì, giảm dần sự phụ thuộc vào ma túy. Tuy nhiên phương pháp điều trị để từ bỏ sự phụ thuộc vào ma túy như thời gian qua hiệu quả không cao.

  1. Hình thức, biện pháp cai nghiện và kết quả cai nghiện ở nước ta

Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 quy định 2 hình thức cai nghiện là cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và cai nghiện tại Trung tâm; 2 biện pháp cai nghiện là cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc.

  1. a) Kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng:

Công tác cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng được áp dụng với 2 biện pháp tự nguyện và bắt buộc và giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy do Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Tổ trưởng và các thành viên là đại diện các ngành Y tế, Công an, Lao động – Thương binh và Xã hội, tổ dân phố và các đoàn thể liên quan. Thành viên Tổ công tác làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và trực tiếp thực hiện các hoạt động cai nghiện. Địa điểm, cơ sở vật chất tổ chức các hoạt động cắt cơn, tư vấn, sinh hoạt nhóm, giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định tổ chức cơ sở chuyên biệt hay lồng ghép với cơ sở y tế.

Thời gian qua, một số tỉnh, thành phố như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Sơn La, Lào Cai…  đã tăng cường đầu tư cho công tác cai nghiện, quản lý sau cai tại cộng đồng, huy động đông đảo các tổ chức xã hội tham gia. Các câu lạc bộ người sau cai, Đội công tác xã hội tình nguyện được thành lập nhằm quản lý giúp đỡ người cai nghiện. Đến nay 38 tỉnh, thành phố đã thành lập 2.165 Đội hoạt động xã hội tình nguyện với 14.824 tình nguyện viên, đây là lực lượng tham gia tích cực vào công tác quản lý, chăm sóc, hỗ trợ người cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng.

Từ năm 1994 – 6/2013 cả nước đã cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng cho 246.994 lượt người, bình quân mỗi năm cai cho hơn 10.000 lượt người chiếm 8% tổng số người nghiện có hồ sơ quản lý.

Một số tồn tại hạn chế của công tác cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và nguyên nhân

– Tồn tại:

+ Chưa khuyến khích động viên được người nghiện ma túy tự nguyện đăng ký cai nghiện, số được cai nghiện tại cộng đồng hàng năm chỉ chiếm khoảng 8% so với số người nghiện có hồ sơ quản lý và phần lớn bị bắt buộc cai nghiện tại cộng đồng;

+ Chất lượng dịch vụ cai nghiện không đáp ứng yêu cầu đặt ra: công tác cai nghiện ở hầu hết các địa phương còn mang tính phong trào, hình thức, tập trung điều trị cắt cơn nghiện từ 10 – 15 ngày. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý, xã hội, chăm sóc sức khỏe chưa được quan tâm, tỷ lệ tái nghiện cao (trên 90%).

– Nguyên nhân:

+ Quy định của pháp luật “người nghiện ma túy đã cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng mà vẫn còn nghiện thì được đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc”, trong khi phần lớn người nghiện đều sợ bị bắt đi cai nghiện bắt buộc do vậy họ trốn tránh cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng. Thực tế cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng hiện nay không giúp được người nghiện cai được nghiện, họ đều tái nghiện và sẽ bị đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc;

+ Đội ngũ cán bộ làm công tác cai nghiện tại cộng đồng (Tổ công tác cai nghiện) đều kiêm nhiệm, thường xuyên thay đổi, phần lớn không được đào tạo, tập huấn về điều trị nghiện do vậy họ không có kiến thức, kỹ năng về lĩnh vực này;

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí thiếu thốn: thiếu địa điểm, thiếu thiết bị truyền thông, thiếu thiết bị y tế…;

  1. b) Kết quả cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (Trung tâm 06)

Công tác cai nghiện tại Trung tâm đã được các ngành, các cấp quan tâm triển khai thực hiện. Đến nay, cả nước có 123 trung tâm cai nghiện trong đó 17 Trung tâm do các tổ chức cá nhân thành lập (Trung tâm tư nhân) và 106 do Nhà nước thành lập và quản lý.

Trung tâm tư nhân phần lớn có quy mô nhỏ từ 10 – 50 giường bệnh và thực hiện giai đoạn điều trị cắt cơn của quy trình cai nghiện. Hàng năm, hỗ trợ điều trị cắt cơn cai nghiện cho trên 3000 lượt người nghiện.

Trung tâm do nhà nước quản lý được thành lập tại 59/63 tỉnh, thành phố trong cả nước trong đó 73 Trung tâm do cấp tỉnh quản lý và 33 Trung tâm do cấp huyện quản lý với tổng quy mô thiết kế cai nghiện cho 65.000 người, tương đương gần 40% số đối tượng có hồ sơ quản lý. Bình quân trong 3 năm gần đây (2008-2011) số người cai nghiện tại thời điểm 31/12 hàng năm ở Trung tâm bằng 55% so với quy mô thiết kế.

Nguồn thu và chi của các Trung tâm từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng 77,5%, gia đình học viên đóng góp 7,4%, lao động sản xuất 8,9%; trung bình chi phí cho 01 đối tượng chữa trị/năm tại Trung tâm vào khoảng 22 triệu đồng  bao gồm toàn bộ chi phí vận hành (chữa trị, sinh hoạt và khấu hao trang thiết bị, lương và phụ cấp của cán bộ nhân viên Trung tâm).

Về số lượng cán bộ tại Trung tâm và trình độ đào tạo: các Trung tâm hiện có 6.374 người, trong đó 3.331 người biên chế chiếm 52,2%, 2.478 người hợp đồng dài hạn chiếm 38,8%, 535 người hợp đồng ngắn hạn chiếm 8,3% và 30 người làm việc theo chế độ biệt phái chiếm 0,4%. Hiện tại, có 55/106 Trung tâm không có bác sỹ, y sỹ là người chịu trách nhiệm chính trong cai nghiện, phục hồi hoặc chữa trị cho đối tượng; cán bộ có trình độ đại học và trên đại học là 1.831 người (chiếm 28,7%); cao đẳng 705 người (chiềm 11%); trung cấp 3053 người (chiếm 47,8%);  sơ cấp 785 người (chiếm 12,3%).

Biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện được áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc người không có nơi cư trú nhất định với thời hạn cai nghiện từ 1 đến 2 năm. Đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi có các điều kiện tương tự như người từ đủ 18 tuổi cũng được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ và không bị coi là xử lý vi phạm hành chính. Các chế độ hỗ trợ về tiền thuốc, tiền ăn, chi phí học nghề chỉ áp dụng cho người cai nghiện bắt buộc. Người cai nghiện được tổ chức lao động để vừa rèn luyện kỹ năng lao động vừa tạo nguồn thu bù đắp chi phí tiền ăn trong thời gian ở Trung tâm.

Các Trung tâm cũng tiếp nhận người không thuộc diện cai nghiện bắt buộc nhưng tự nguyện xin cai tại Trung tâm; thời gian cai nghiện không được thấp hơn 6 tháng, các chế độ quản lý do giám đốc Trung tâm quy định.

Hàng năm các Trung tâm tiếp nhận cai nghiện cho từ 40.000 – 50.000 lượt người nghiện, trong đó cai nghiện bắt buộc chiếm 80%, cai nghiện tự nguyện chiếm 20%. Góp phần làm giảm sử dụng ma túy trái phép, giảm gánh nặng kinh tế, tâm lý xã hội cho bản thân và gia đình người nghiện, giảm lây nhiễm HIV, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.

Một số tồn tại hạn chế của cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm

– Trung tâm là nơi xử lý vi phạm pháp luật về hành chính đối với người nghiện do vậy hầu hết các tỉnh, thành phố (59/63 tỉnh, thành phố có Trung tâm) đều thành lập, vị trí đặt ở vùng sâu vùng xa, cách ly với cộng đồng dân cư, đi lại khó khăn, dẫn đến các Trung tâm có ít người vào cai nghiện không sử dụng hết công suất đầu tư gây tốn kém, lãng phí cụ thể như: Phú Yên công suất thiết kế Trung tâm cai nghiện cho 200 người nghiện nhưng thực tế thường xuyên chỉ có 5 -15 người cai nghiện tại Trung tâm; Bình Định thiết kế cai cho 300 người, thường xuyên có 30 – 40 người cai tại Trung tâm; Thừa Thiên Huế thiết kế cai cho 300 người, thường xuyên có 20 – 30 người cai tại Trung tâm …

– Cai nghiện cho cả đối tượng tự nguyện tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc.

– Chưa thực hiện đầy đủ và đúng qui trình chuyên môn kỹ thuật theo hướng dẫn, chủ yếu thực hiện các hoạt động cắt cơn giải độc, lao động, các liệu pháp về tư vấn, tâm lý, hành vi chưa được quan tâm đúng mức.

– Việc dạy nghề còn rất đơn giản, chủ yếu là đào tạo trình độ sơ cấp không đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động do vậy sau khi rời Trung tâm học viên không tìm được việc và không tự tạo được việc làm bằng nghề đã học tại Trung tâm.

– Các chế độ chính sách hỗ trợ hạn chế, chưa chú ý đến các chế độ miễn giảm thời gian chữa trị cho học viện tại Trung tâm.

– Cán bộ chuyên môn thiếu về số lượng và yếu về trình độ chuyên môn do  không được đào tạo phù hợp, điều kiện làm việc xa gia đình, đi lại khó khăn, trong khi thu nhập, tiền lương thấp nên không yên tâm công tác, khó thu hút lao động có chuyên môn cao.

– Việc thực hiện các biện pháp chuyên môn chưa hợp lý; chất lượng dịch vụ thấp.

– Tỷ lệ tái nghiện cao (80-90%) sau khi ra khỏi Trung tâm 1-2 năm.

– Hầu hết các Trung tâm đóng ở vùng sâu, vùng xa nên khó khăn trong kết nối dịch vụ y tế, xã hội với các cơ sở sẵn có ngoài cộng đồng.

  1. c) Chương trình thí điểm điều trị methadon

Bên cạnh 2 biện pháp cai nghiện là tự nguyện và bắt buộc, từ năm 2008, Bộ Y tế đã bắt đầu triển khai chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadon tại Hải phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 6/2013 đã có 20 tỉnh, thành phố triển khai với 62 cơ sở được thành lập và điều trị duy trì cho trên 13.000 bệnh nhân. Kết quả đánh giá (số liệu của Bộ Y tế) cho thấy chương trình methadon đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, cụ thể là:

– 90% bệnh nhân tuân thủ điều trị, chỉ có 10% bệnh nhân còn sử dụng heroin sau 9 tháng điều trị nhưng tần suất giảm rõ rệt, chỉ 1-2 lần/ tháng;

– Sức khỏe của bệnh nhân cải thiện rõ rệt; nhiều bệnh nhân chuyển biến cả về thể chất và tinh thần, tích cực tìm việc làm, chăm lo cho cho bản thân và gia đình;

– Tỷ lệ vi phạm pháp luật giảm từ 40% xuống còn 3% sau 9 tháng tham gia điều trị methadon;

– Tiết kiêm chi phí: chi phí vận hành một cơ sở điều trị methadon điều trị cho 250 người bệnh khoảng 1,4 tỷ đồng/năm. Chi phí điều trị tính bình quân cho một người bệnh khoảng 5,5 triệu đồng/năm (tiền thuốc khoảng 7.000 VNĐ/người bệnh/ngày tính giá thuốc nhập khẩu), thấp hơn nhiều so với mức 22 triệu đồng/năm nếu cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm;

Nhìn chung công tác cai nghiện ma túy ở nước ta vẫn chủ yếu dựa trên phương pháp cai cắt cơn nghiện, phục hồi tâm lý, hành vi, trong đó cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm là chủ yếu. Mặc dù đến nay nghiện ma túy đã được nhìn nhận là một bệnh mãn tính, nhưng biện pháp điều trị vẫn chủ yếu là xử phạt hành chính, với thời gian bắt buộc cai nghiện lên tới 2 năm tại các Trung tâm. Tuy nhiên với những luận cứ khoa học, và thực tiễn trong và ngoài nước cho thấy việc bắt buộc người nghiện cai nghiện tại Trung tâm 2 năm không mang lại hiệu quả như mong muốn. Ngoài những hạn chế về trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác cai nghiện, về chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ hiện nay, việc theo dõi và đánh giá công tác điều trị nghiện ma túy còn hạn chế.

Qua phân tích kinh nghiệm của quốc tế, bài học của một số nước trong khu vực và ở nước ta thời gian qua về cai nghiện cho thấy công tác cai nghiện ma túy ở nước ta cần được thay đổi cả về phương pháp tiếp cận và  biện pháp tổ chức thực hiện. Do vậy cần thiết phải xây dựng Đề án đổi mới công tác cai nghiện nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của công tác này.

III. CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy ngày 09 tháng 12 năm 2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)  ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;

Căn cứ Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;

Căn cứ Quyết định số 1001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Căn cứ Kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống HIV, ma túy, mại dâm năm 2011 và triển khai nhiệm vụ năm 2012, giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Công văn số 84/TB-VPCP ngày 9 tháng 3 năm 2012 của Văn phòng Chính phủ).

 

Phần 2
QUAN ĐIỂM, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, CÁC HOẠT HOẠT ĐỘNG
CHỦ YẾU, GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỂ ÁN

  1. QUAN ĐIỂM
  2. Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy (gọi tắt là điều trị nghiện) là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép;
  3. Thực hiện đa dạng hóa các biện pháp và mô hình điều trị bao gồm điều trị tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và điều trị bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (gọi tắt là Trung tâm). Theo hướng tăng dần tiến tới điều trị tại cộng đồng là chủ yếu, giảm dần điều trị bắt buộc tại các Trung tâm với lộ trình phù hợp. Tạo điều kiện cho người nghiện dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ điều trị thích hợp tại cộng đồng, điều trị bắt buộc chỉ áp dụng cho người nghiện ma túy có hành vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội theo quyết định của tòa án;
  4. Nhà nước đầu tư nguồn lực và có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy; có chính sách hỗ trợ điều trị nghiện cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế. Cá nhân và gia đình người nghiện có trách nhiệm tham gia và đóng góp vào công tác này.
  5. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN
  6. Phạm vi: đổi mới về nhận thức, biện pháp điều trị nghiện ma túy, hệ thống cơ sở dự phòng và điều trị nghiện ma túy trong phạm vi cả nước.
  7. Đối tượng: người nghiện ma túy, gia đình người nghiện ma túy, các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy.

III. MỤC TIÊU

  1. Mục tiêu chung

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy, kiềm chế sự gia tăng số người nghiện mới, hỗ trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng.

  1. Mục tiêu cụ thể

2.1. Giai đoạn đến năm 2015

– Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và các tầng lớp nhân dân về dự phòng và điều trị nghiện ma túy, phấn đấu 80% cán bộ chính quyền các cấp và 60% người dân ở độ tuổi trưởng thành hiểu biết cơ bản về nghiện ma túy, các biện pháp, mô hình dự phòng và điều trị nghiện.

– Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác dự phòng và điều trị nghiện, phấn đấu 80% cán bộ tham gia công tác dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo kiến thức cơ bản về điều trị nghiện; 50% cán bộ làm công tác tư vấn về dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo và cấp chứng chỉ; 80% cán bộ y tế công tác tại các cơ sở điều trị nghiện có đầy đủ văn bằng chứng chỉ theo quy định về điều trị nghiện.

– Nâng tỷ lệ số người nghiện được điều trị so với số người nghiện có hồ sơ quản lý từ 35% (tương đương 63.000 người/180.783 người) hiện nay lên 70% vào năm 2015 (khoảng 140.000 người) trong đó:

+ Giảm tỷ lệ người điều trị bắt buộc tại Trung tâm từ 63% hiện nay xuống còn 20% vào năm 2015;

+ Tăng tỷ lệ người điều trị tự nguyện tại gia đình, cộng đồng tăng từ 37% hiện nay lên lên 80% vào năm 2015.

– Tăng tỷ lệ người nghiện hòa nhập cộng đồng có việc làm từ 40% hiện nay lên 50% vào năm 2015.

2.2. Giai đoạn 2016 – 2020

– Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và các tầng lớp nhân dân về dự phòng và điều trị nghiện ma túy, phấn đấu 100% cán bộ chính quyền các cấp và 80% người dân ở độ tuổi trưởng thành hiểu biết cơ bản về nghiện ma túy, các biện pháp, mô hình dự phòng và điều trị nghiện.

– Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác dự phòng và điều trị nghiện, phấn đấu 90% cán bộ tham gia công tác dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo kiến thức cơ bản về điều trị nghiện; 100% cán bộ làm công tác tư vấn về dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo và cấp chứng chỉ; 100% cán bộ y tế công tác tại các cơ sở điều trị nghiện có đầy đủ văn bằng chứng chỉ theo quy định về điều trị nghiện.

– Nâng tỷ lệ số người nghiện có hồ sơ quản lý được điều trị từ 70% vào năm 2015 lên 90% (ước tính khoảng 225.000 người) trong đó:

+ Tỷ lệ người điều trị bắt buộc tại Trung tâm giảm từ 20% vào năm 2015 xuống còn 6%;

+Tăng tỷ lệ người điều trị tự nguyện tại gia đình, cộng đồng tăng từ 80% vào năm 2015 lên 96%.

– Tăng tỷ lệ người nghiện hòa nhập cộng đồng có việc làm từ 50% vào năm 2015 lên 70%.

  1. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA ĐỀ ÁN
  2. Phát triển các sơ sở điều trị nghiện tự nguyện

1.1. Mục đích: hình thành mạng lưới các cơ sở điều trị nghiện có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu đa dạng về dịch vụ điều trị nghiện; tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiện ma túy tiếp cận và sử dụng dịch vụ.

1.2. Nguyên tắc:

– Nhà nước thành lập và có chính sách khuyến kích các tổ chức cá nhân thành lập các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện:

+ Cơ sở do nhà nước thành lập: là đơn vị sự nghiệp công lập, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

+ Cơ sở do tổ chức cá nhân thành lập (Cơ sở dân lập): là cơ sở kinh doanh có điều kiện, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

– Số lượng, quy mô, vị trí của các cơ sở phải phù hợp với nhu cầu điều trị, tại mỗi địa phương, thuận lợi cho việc đi lại của người bệnh, tránh dàn trải lãng phí;

– Cơ sở do nhà nước thành lập dựa trên nền tảng cơ sở vật chất, tổ chức, cán bộ sẵn có của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và ngành Y tế tại các địa phương;

1.3. Chức năng nhiệm vụ của cơ sở điều trị nghiện tự nguyện: cung cấp gói dịch vụ khám và điều trị toàn diện cho người nghiện ma túy, sàng lọc và áp dụng phương pháp điều trị thích hợp cho từng người, cụ thể là:

– Tư vấn: giúp người sử dụng ma túy lựa chọn dịch vụ dự phòng và điều trị thích hợp như điều trị ngoại trú bằng thuốc thay thế, điều trị giảm dần, điều trị hội chứng cai và các rối loạn tâm thần, trị liệu nhóm, điều trị bằng Natrexone; tiếp cận với các dịch vụ dạy nghề, tín dụng vi mô, các doanh nghiệp để có việc làm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác tại cộng đồng;

– Tiếp nhận bệnh nhân, thực hiện sàng lọc và lập kế hoạch điều trị cho từng bệnh nhân;

– Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của Bộ Y tế;

– Điều trị hội chứng cai và các rối loạn tâm thần, thể chất ở người sử dụng ma túy;

– Trị liệu tâm lý phục hồi hành vi nhân cách cho người nghiện;

– Khám sàng lọc, điều trị lao, ARV và các bệnh cơ hội khác;

– Xét nghiệm tìm chất ma túy;

– Hỗ trợ, giới thiệu người nghiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội như dạy nghề, tín dụng vi mô, các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển lao động nhằm giúp họ có việc làm, thu nhập ổn định tại cộng đồng;

– Giới thiệu chuyển tuyến: giới thiệu về các điểm chăm sóc hỗ trợ tại cộng đồng; để được duy trì tiếp tục điều trị duy trì bằng Methadon và các phương pháp trị liệu hành vi khác; giới thiệu tới các cơ sở điều trị ARV, lao và các chuyên khoa khác đối với các trường hợp vượt quá khả năng của đơn vị.

1.4. Tổ chức phát triển cơ sở điều trị tự nguyện

  1. a) Chuyển đổi Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (gọi tắt là Trung tâm) thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyện

– Cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm, bao gồm:

+ Khu khám và điều trị ngoại trú: được bố trí các phòng và trang thiết bị trong phòng đảm bảo các quy định của pháp luật về cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện;

+ Khu điều trị nội trú gồm: phòng trực cấp cứu trong phòng có tủ và danh mục thuốc, trang thiết bị cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; phòng ở của bệnh nhân, trong phòng bố trí mỗi bệnh nhân có 01 bộ gồm giường, chiếu, chăn, màn và tủ đầu giường, số lượng và diện tích phòng tùy theo quy mô của từng cơ sở nhưng diện tích không nhỏ hơn 10 m2/phòng, mỗi phòng không được quá 04 bệnh nhân hoặc không dưới 04m2/bệnh nhân; phòng sinh hoạt tập thể bên trong  có trang thiết bị truyền thông, văn hóa, văn nghệ và phòng bếp.

Các khu, phòng được bố trí thích hợp đảm bảo cho công tác giữ gìn an ninh trật tự và thuận lợi trong phối hợp thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ về điều trị.

– Sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của các cơ sở điều trị để đảm bảo các điều kiện theo quy định về điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và điều trị cắt cơn giải độc, trị liệu phục hồi hành vi nhân cách cho người nghiện.

– Các hình thức chuyển đổi:

+ Chuyển đổi hoàn toàn: Trung tâm được chuyển đổi hoàn toàn thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyên gồm Trung tâm do cấp huyện quản lý, Trung tâm của các tỉnh, thành phố thường xuyên có dưới 50% số người cai nghiện so với quy mô thiết kế tại Đề án thành lập cơ sở, Trung tâm của các tỉnh, thành phố có trên 02 Trung tâm;

+ Chuyển đổi một phần của Trung tâm: những Trung tâm thuộc các tỉnh thành phố có trên 2000 người có hồ sơ quản lý và vị trí thuận lợi cho việc đi lại của người bệnh được chuyển một phần thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyện. Phần chuyển đổi sang cơ sở điều trị tự nguyện phải được bố trí tách biệt với cơ sở điều trị bắt buộc. Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ phải đảm bảo các điều kiện của cơ sở điều trị nghiện tự nguyện.

– Lộ trình thực hiện và kết quả dự kiến

+ Giai đoạn đến năm 2015:

Thí điểm chuyển đổi 80 Trung tâm trong đó 40 Trung tâm chuyển đổi hoàn toàn và 40 Trung tâm chuyển đổi một phần thành khu điều trị ngoại trú của cơ sở điều trị nghiện tự nguyện. Tiếp nhận điều trị duy trì cho người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho 12.000 bệnh nhân, điều trị, hoàn thành giai đoạn dò liều và chuyển về điều trị duy trì tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng 12.000 bệnh nhân. Trong đó chọn 20 Trung tâm để triển khai thí điểm khu điều trị nội trú (10 cơ sở chuyển đổi hoàn toàn và 10 cơ sở chuyển đổi một phần), điều trị nội trú và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 2000 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất khác cho 8.000 bệnh nhân.

+ Giai đoạn 2016 – 2020: 80 Trung tâm thí điểm chuyển đổi được hoàn thiện và đi vào hoạt động với đầy đủ chức năng của cơ sở điều trị nghiện tự nguyện. Điều trị duy trì bằng thuốc thay thế cho 12.000 bệnh nhân, điều trị, hoàn thành giai đoạn dò liều và giới thiệu chuyển về điều trị duy trì bằng thuốc thay thế tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng cho 20.000 bệnh nhân. Tiếp nhận điều trị nội trú và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 8000 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục được tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất khác cho 32.000 bệnh nhân.

  1. b) Phát triển và hoàn thiện các cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyện nhằm cung cấp dịch vụ điều trị toàn diện cho người nghiện

– Rà soát thực trạng tình hình nghiện ma túy, các cơ sở điều trị nghiện thay thế, các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, cơ sở Y tế (Trung tâm y tế huyện, khoa, viện tâm thần), cơ sở hỗ trợ xã hội có thể tham gia công tác điều trị nghiện tự nguyện tại các địa phương để cải tạo, nâng cấp giao nhiệm vụ điều trị nghiện tự nguyện phù hợp với tình hình thực tế của các địa phương;

– Cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị và đào tạo, bồi dưỡng sắp xếp đội ngũ cán bộ của các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện đáp ứng đầy đủ các quy định của cơ sở điều trị nghiện tự nguyện.

– Lộ trình thực hiện và kết quả dự kiến

+ Giai đoạn đến năm 2015:

Hình thành thêm 80 cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện, đảm bảo điều trị duy trì cho 12.000 bệnh nhân, đồng thời điều trị dò liều và giới thiệu chuyển về điều trị duy trì bằng thuốc thay thế tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng cho 12.000 bệnh nhân. Trong đó chọn 10 cơ sở để  triển khai thí điểm thành lập khu điều trị nội trú (chọn các cơ sở điều trị thay thế do ngành Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý), đảm bảo tiếp nhận điều trị nội và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 1000 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất khác cho 4.000 bệnh nhân.

+ Giai đoạn 2016 – 2020: 140 cơ sở điều trị thay thế được nâng cấp thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyện (60 cơ sở hiện có và 80 cơ sở mới), cung cấp dịch vụ  điều trị toàn diện cho người nghiện. Đảm bảo điều trị duy trì bằng thuốc thay thế cho 21.000 bệnh nhân, điều trị dò liều và giới thiệu chuyển về điều trị duy trì bằng thuốc thay thế tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng cho 36.000 bệnh nhân. Tiếp nhận điều trị và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 14.000 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục được tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất cho 40.000 bệnh nhân.

  1. c) Nâng cấp, phát triển các Trung tâm cai nghiện dân lập thành cơ sở điều trị nghiện tự nguyện dân lập

– Nguyên tắc

+ Tổ chức, cá nhân có Trung tâm chủ động đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; tuyển dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ của cơ sở đảm bảo các điều kiện theo quy định về cơ sở điều trị nghiện tự nguyện;

+ Nhà nước hỗ trợ: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật của đơn vị; hỗ trợ tiền thuốc, tiền ăn và các chi phí điều trị theo quy định của pháp luật.

– Lộ trình thực hiện và kết quả dự kiến

+ Giai đoạn đến năm 2015: dự kiến triển khai thí điểm chuyển đổi 05 Trung tâm tư nhân của các tỉnh, thành phố Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Tiếp nhận điều trị duy trì bằng thuốc thay thế cho 1000 bệnh nhân, điều trị, hoàn thành giai đoạn dò liều và giới thiệu chuyển về điều trị duy trì bằng thuốc thay thế tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng cho 1.000 bệnh nhân. Tiếp nhận điều trị nội trú và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 500 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục được tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất khác cho 2.000 bệnh nhân.

+ Giai đoạn 2016 – 2020: dự kiến thành lập triển 30 cơ sở điều trị nghiện dân lập. Triển khai điều trị duy trì bằng thuốc thay thế cho 5.000 bệnh nhân, điều trị, hoàn thiện giai đoạn dò liều và giới thiệu chuyển về điều trị duy trì bằng thuốc thay thế tại các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng cho 5.000 bệnh nhân. Tiếp nhận điều trị nội trú và ngoại trú bằng các phương pháp khác nhau cho 3000 bệnh nhân, điều trị và giới thiệu chuyển về các điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng để tiếp tục được tư vấn, trị liệu hành vi và điều trị duy trì các rối loạn tinh thần và thể chất khác cho 8.000 bệnh nhân.

  1. Tổ chức các điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng
  2. a) Mục đích: huy động các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ, giúp đỡ người nghiện giúp họ nâng cao nhận thức, tuân thủ việc điều trị lâu dài tại cộng đồng.
  3. b) Điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng có nhiệm vụ:

– Tiếp nhận cấp, phát thuốc điều trị thay thế cho người nghiện đã xác định được liều điều trị do các cơ sở điều trị nghiện chuyển về;

– Tư vấn dự phòng và thực hiện các hoạt động điều trị duy trì, giáo dục hành vi nhân cách, điều trị các rối loạn thể chất, tinh thần và hỗ trợ xã hội cho người bệnh, cụ thể là:

+ Tiếp cận với người sử dụng ma túy, tuyên truyền, vận động họ tham gia chương trình điều trị nghiện;

+ Cung cấp kiến thức về ma túy, nghiện ma túy, dự phòng, điều trị nghiện ma túy cho cộng đồng dân cư;

+ Tư vấn cho người sử dụng ma túy, gia đình người sử dụng ma túy phòng tránh nghiện ma túy, lựa chọn các dịch vụ dự phòng và điều trị phù hợp, kỹ năng dự phòng tái nghiện, phòng, chống sốc quá liều, phòng chống lây truyền HIV và các bệnh truyền nhiễm khác;

+ Tư vấn hỗ trợ pháp lý liên quan đến hành vi sử dụng ma túy, nghiện ma túy;

+ Quản lý trường hợp đảm bảo tuân thủ điều trị đối và thực hiện các hỗ trợ xã hội;

+ Kết nối để người nghiện được tiếp cận với các cơ sở cung cấp dịch vụ điều trị nghiện tự nguyện: dạy nghề; quỹ tín dụng vi mô; dạy nghề, việc làm…

+ Thực hiện cấp cứu sốc quá liều; chăm sóc giảm nhẹ, điều trị tại nhà một số bệnh thông thường theo yêu cầu của người nghiện nhằm giảm nhẹ tác động của bệnh giúp người nghiện cải thiện cuộc sống.

  1. c) Hình thành các điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

– Nguyên tắc

+ Cơ sở, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ của điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng chủ yếu sử dụng Trạm y tế cấp xã để hoạt động nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của cơ sở cấp phát thuốc điều trị thay thế và các quy định về tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện;

+ Huy động sự tham gia và kết nối hoạt động của các cá nhân, tổ chức xã hội tại địa phương như: Đội công tác xã hội tình nguyện, cộng tác viên công tác xã hội, cộng tác viên của các chương trình phòng, chống ma túy; phòng chống HIV/AIDS; phòng, chống mại dâm, các câu lạc bộ, nhóm giáo dục đồng đẳng, nhóm tự lực, các cơ quan, doanh nghiệp, nhà hảo tâm tham gia hỗ trợ người điều trị nghiện tại cộng đồng;

+ Căn cứ số lượng người nghiện ma túy tại địa phương Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thành phố quyết định thành lập điểm chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện ma túy phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Cán bộ làm việc tại các điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng chủ yếu là kiêm nhiệm và những người tình nguyện tham gia,  không hưởng tiền lương, tiền công từ ngân sách Nhà nước.

– Tổ chức thực hiện: các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai:

+ Rà soát thống kê thực trạng nghiện nghiện ma túy tại các xã, phường, thị trấn;

+ Rà soát đội ngũ cán bộ: Đội công tác xã hội tình nguyện, cộng tác viên tham các chương trình, các tổ chức, doanh nghiệp, các nhóm hoạt động phi lợi nhuận tại địa phương;

+ Rà soát cơ sở vật chất hiện có tại các xã, phường, thị trấn.

+ Xây dựng và thực hiện phương án thành lập điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

  1. d) Lộ trình thực hiện và kết quả dự kiến.

– Giai đoạn đến năm 2015:

+ Thành lập 500 cơ sở cấp phát thuốc điều trị thay thế tại các xã phường trọng điểm về nghiện ma túy, cấp phát thuốc điều trị duy trì cho 25.000 bệnh nhân, trong đó lựa chọn 200 cơ sở để thí điểm thực hiện tư vấn hỗ trợ điều trị bằng phương pháp khác cho 32.000 người;

–  Giai đoạn 2016 – 2020: thành lập 900 cơ sở tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng tại các xã phường có trên 100 người nghiện (theo quy định tại Nghị định số 96/2012/NĐ-CP của Chính phủ), đảm bảo cung cấp đầy đủ dịch vụ  đáp ứng nhu cầu hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

  1. Quy hoạch cơ sở điều trị nghiện bắt buộc
  2. a) Mục đích:

– Bố trí, sắp sếp lại theo hướng giảm dần số lượng các cơ sở điều trị nghiện bắt buộc cho phù hợp với nhu cầu chữa bệnh bắt buộc đối với các trường hợp có quyết định của Tòa án

– Đổi mới hoạt động tại các cơ sở điều trị bắt buộc theo hướng cung cấp dịch vụ toàn diện, người điều trị tại Cơ sở được áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp như những người điều trị ở cơ sở tự nguyện.

  1. b) Định hướng quy hoạch: đối với các các tỉnh, thành phố trọng điểm về ma túy cần thiết phải duy trì các cơ sở điều trị nghiện bắt buộc, các tỉnh thành phố có số lượng người nghiện ít thì không nhất thiết phải duy trì cơ sở điều trị nghiện bắt buộc. Trường hợp có đối tượng cần điều trị bắt buộc theo quyết định của Tòa án thì gửi đến cơ sở điều trị bắt buộc của địa phương khác trong khu vực.
  2. c) Tổ chức thực hiện: các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ số lượng người nghiện của địa phương:

– Rà soát, đánh giá nhu cầu điều trị bắt buộc để xác định quy mô cơ sở điều trị bắt buộc: Dự kiến quy mô của các cơ sở điều trị từ 400 – 600 bệnh nhân, quy mô của các khu điều trị bắt buộc từ 200 – 400 bệnh nhân đảm bảo đến năm 2020 sẽ tiếp nhận và điều trị bắt buộc cho 15.000 bệnh nhân có quyết định của Tòa án về bắt buộc chữa bệnh.

– Xây dựng và thực hiện phương án: cải tạo, nâng cấp, bổ sung trang thiết bị y tế; sắp xếp tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới.

– Xây dựng và thực hiện nội dung, chương trình điều trị tại cơ sở phù hợp với từng bệnh nhân, đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc về điều trị nghiện.

  1. Sơ đồ hệ thống điều trị nghiện ma túy

 

 

 

 

 

 

  1. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện ma túy

5.1.Mục đích: thống nhất chương trình, giáo trình, nội dung đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện trong phạm vi cả nước nhằm từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tham gia công tác này.

5.2. Nội dung, đối tượng, hình thức và các bước triển khai  đào tạo

  1. a) Nội dung, đối tượng và hình thức đào tạo:

– Đào tạo cơ bản về dự phòng và điều trị nghiện ma túy

+ Đối tượng: sinh viên khoa công tác xã hội của các trường đại học, trung học, sinh viên hệ đa khoa các trường đại học y khoa và trung cấp y và cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp tham gia công tác điều trị nghiện.

+ Hình thức: đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa đối với sinh viên và tổ chức lớp đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ làm việc trong lĩnh vực này.

– Đào tạo về tư vấn điều trị nghiện

+ Đối tượng: cán bộ làm công tác tư vấn tại các cơ sở điều trị nghiện, điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

+ Hình thức: tổ chức lớp đào tạo bồi dưỡng và cấp chứng chỉ về tư vấn điều trị nghiện.

– Đào tạo về điều trị thay thế, điều trị hội chứng cai và các rối loạn tâm thần, thể chất ở người nghiện

+ Đối tượng: cán bộ y tế công tác tại các cơ sở điều trị nghiện, điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

+ Hình thức: tổ chức lớp đào tạo bồi dưỡng và cấp chứng chỉ về điều trị thay thế và điều trị cắt cơn nghiện.

  1. b) Các bước triển khai thực hiện

– Xây dựng chương trình khung và giáo trình đào tạo:

+ Chương trình khung, giáo trình đào tạo cơ bản về dự phòng và điều trị nghiện;

+ Chương trình khung và giáo trình đào tạo về tư vấn điều trị nghiện;

+ Chương trình khung và giáo trình đào tạo về điều trị thay thế, điều trị hội chứng cai.

– Xây dựng tiêu chí, điều kiện các cơ sở tham gia đào tạo cơ bản về điều trị nghiện, điều kiện đào tạo tư vấn về điều trị nghiện và điều kiện đào tạo về điều trị thay thế, điều trị hội chứng cai, điều trị rối loạn về thể chất, tinh thần của người nghiện ma túy.

– Triển khai công tác đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện đáp ứng các mục tiêu đã đề ra.

5.3. Lộ trình thực hiện và kết quả dự kiến

– Giai đoạn đến năm 2015: xây dựng hoàn thiện các chương trình khung, giáo trình và điều kiện các cơ sở tham gia đào tạo về điều trị nghiện;

+ Xây dựng tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp giấy phép cho các cơ sở tham gia đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện.

– Tổ chức đào tạo về điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; đào tạo cán bộ tham gia thí điểm về điều trị nghiện.

– Giai đoạn 2016 – 2020:

+ Đưa vào chương trình đào tạo của các trường, cơ sở đủ điều kiện đào tạo cơ bản về điều trị nghiện;

+ Tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ các cơ sở điều trị nghiện, điểm chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng mỗi năm từ 300 – 500 người, đảm bảo đến năm 2020, cán bộ công tác tại các cơ sở điều trị nghiện đều có chứng chỉ phù hợp với nhiệm vụ được phân công.

  1. Nghiên cứu, xây dựng và triển khai chương trình giám sát đánh giá công tác điều trị nghiện

6.1. Xây dựng chỉ số thống kê báo cáo đánh giá định kỳ

  1. a) Xây dựng bộ chỉ số

– Mục đích: thống nhất tiêu chí thống kê báo cáo phục vụ công tác quản lý điều hành lĩnh vực điều trị nghiện

– Nội dung:

+ Xây dựng biểu mẫu thống kê báo cáo định kỳ của các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện;

+ Xây dựng biểu mẫu thống kê báo cáo định kỳ của các điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng;

+ Xây dựng biểu mẫu thống kê báo cáo định kỳ của cơ sở điều trị nghiện bắt buộc;

+ Biểu mẫu tổng hợp báo cáo của các cơ quan quản lý các cấp.

– Tổ chức thực hiện: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục thống kê nghiên cứu xây dựng biểu mẫu và hướng dẫn tổng hợp thống kê, báo cáo.

– Thời gian thực hiện: đến năm 2015

  1. b) Báo cáo thống kê định kỳ 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng.

6.2. Xây dựng chỉ số và điều tra đánh giá trọng điểm tại một số địa phương

  1. a) Xây dựng bộ chỉ số đánh giá

– Mục đích: thống nhất tiêu chí đánh giá hiệu quả các phương pháp điều trị nghiện nhằm sửa đổi bổ sung cho phù hợp với từng nhóm người nhất định;

– Nội dung:

+ Chỉ số đánh giá hiệu quả về sức khỏe, thể chất và tinh thần;

+ Chỉ số đánh giá hiệu quả về kinh tế;

+ Chỉ số đánh giá hiệu quả về xã hội.

– Tổ chức thực hiện: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế nghiên cứu xây dựng.

– Thời gian thực hiện: từ năm 2014 – 2015.

  1. b) Điều tra đánh giá điểm tại 30 tỉnh, thành phố, chu kỳ 2 năm/lần

– Đối tượng điều tra là người tham gia điều trị tại hệ thống cơ sở điều trị nghiện: cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, cơ sở điều trị bắt buộc và điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.

– Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

+ Cỡ mẫu: mỗi mô hình điều tra 50 người/tỉnh, tổng cộng 4500 người;

+ Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.

– Tổ chức thực hiện: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thuê chuyên gia tư vấn độc lập tổ chức đánh giá.

– Thời gian thực hiện: từ năm 2016 – 2020.

  1. GIẢI PHÁP
  2. Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức về nghiện ma túy, dự phòng và điều trị nghiện ma túy
  3. a) Xây dựng chương trình, tài liệu truyền thông về ma túy, nghiện ma túy và các biện pháp dự phòng và điều trị nghiện phù hợp với đội ngũ cán bộ quản lý các cấp và các tầng lớp nhân dân.
  4. b) Triển khai các hoạt động thông tin truyền thông về dự phòng và điều trị nghiện ma túy tới các tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức, nội dung đa dạng, phong phú.
  5. Sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về dự phòng và điều trị nghiện
  6. a) Rà soát, đánh giá những quy phạm liên quan đến cai nghiện của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy năm 2008, Luật xử lý vi phạm hành chính, Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở đó xây dựng Luật dự phòng và điều trị nghiện ma túy; sửa đổi, bổ sung Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
  7. b) Tăng cường xây dựng, ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ về điều trị nghiện ma túy.
  8. Huy động nguồn lực cho công tác dự phòng và điều trị nghiện

3.1. Tăng cường hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước

– Tăng cường hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống các cơ sở điều trị nghiện để đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ đặt ra;

– Có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa để họ có điều kiện tiếp cận với dịch vụ về dự phòng và điều trị nghiện.

3.2. Huy động sự tham gia của cộng đồng, khuyến khích xã hội hóa công tác điều trị nghiện

– Khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và các cá nhân tham gia đầu tư, thành lập các cơ sở tư vấn dự phòng và điều trị nghiện ma túy, thành lập các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện;

– Khuyến khích Đội công tác xã hội tình nguyện, các tổ chức tôn giáo, các câu lạc bộ, nhóm giáo dục đồng đẳng, các cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia hỗ trợ giúp đỡ người sử dụng ma túy tham gia Chương trình dự phòng và điều trị nghiện.

3.3. Tăng cường sự phối hợp liên ngành và huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội

– Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự tham gia của cả hệ thống chính trị đối với công tác dự phòng và điều trị nghiện;

– Xây dựng và thực hiện kế hoạch liên ngành để triển khai công tác tư vấn dự phòng và điều trị nghiện, lồng ghép, phối hợp hiệu quả giữa các dịch vụ về phòng, chống HIV/AIDS; dịch vụ chăm sóc sức khỏe; dịch vụ hỗ trợ dạy nghề, vay vốn, tạo việc làm với dịch vụ tư vấn dự phòng và điều trị nghiện;

– Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành trong công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy tránh chồng chéo.

3.4. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy

– Sắp xếp bố trí lại và sử dụng hợp lý, hiệu quả đội ngũ cán bộ, nhân viên trong các cơ sở điều trị nghiện nhằm đáp ứng đủ nhân lực cho yêu cầu đổi mới công tác điều trị nghiện;

– Tăng cường, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dự phòng và điều trị nghiện.

  1. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sản xuất, cung ứng thuốc, phương pháp điều trị nghiện

– Xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất và cung ứng thuốc điều trị thay nghiện chất dạng thuốc phiện, đáp ứng nhu cầu điều trị của người nghiện;

– Nghiên cứu các phương pháp điều trị và triển khai thí điểm điều trị nghiện ma túy tổng hợp tại một số địa phương;

– Tiếp tục nghiên cứu các bài thuốc hỗ trợ điều trị cắt cơn nghiện, các phương pháp điều trị nghiện.

  1. 5. Tăng cường hợp tác quốc tế

Tăng cường phối hợp với các tổ chức của Liên hợp quốc như UNODC, WHO, UNAIDS, các tổ chức thuộc chính phủ, phi chính phủ các nước nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật và tài chính cho công tác điều trị nghiện ma túy.

 

 

  1. KINH PHÍ THỰC HIỆN (Phụ lục kinh phí kèm theo)
  2. Kinh phí dự kiến: 6.442 tỷ đồng
  3. Giai đoạn đến năm 2015: 2.146 tỷ đồng trong đó:

– Kinh phí nhà nước:  2.128  tỷ đồng

+ Kinh phí thuộc đề án sản xuất và sử dụng Methadone: 2.025 tỷ đồng (Bộ Y tế đã phê duyệt sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ)

+ Kinh phí thuộc Dự án 5 Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma túy giai đoạn 2011 – 2015: 103 tỷ đồng

– Kinh phí viện trợ: 1,2  tỷ đồng

  1. Giai đoạn 2016 – 2020: 4.297 tỷ đồng

– Kinh phí đảm bảo xã hội theo Luật ngân sách: 389  tỷ đồng

– Kinh phí huy động đóng góp của người bệnh: 3.905 tỷ đồng

  1. Phân bổ, quản lý, sử dụng kinh phí của Đề án: theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

2.1. Kinh phí thực hiện Đề án được bố trí trong kinh phí chi thường xuyên hàng năm của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương theo phân cấp quản lý của Luật Ngân sách nhà nước; lồng ghép trong Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma túy; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và các chương trình mục tiêu quốc gia khác. Huy động các nguồn lực xã hội; từ hợp tác quốc tế và các nguồn hợp pháp khác.

2.2. Người tham gia điều trị chi trả một phần phí dịch vụ điều trị theo quy định. Nhà nước có chính sách hỗ trợ điều trị cho những người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa.

  1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
  2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: xây dựng kế hoạch triển khai Đề án; xây dựng quy hoạch hệ thống cơ sở điều trị nghiện ma túy; hướng dẫn tổ chức triển khai thí điểm các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng; chủ trì xây dựng chương trình khung đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ tư vấn điều trị nghiện, cán bộ xã hội; quy định điều kiện tiêu chuẩn của các cơ sở đào tạo cán bộ tư vấn điều trị nghiện; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về dự phòng và điều trị nghiện ma túy, đề xuất các cơ chế chính sách hỗ trợ người nghiện trong học nghề, tạo việc làm và tiếp cận các dịch vụ xã hội; định kỳ sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện Đề án báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
  3. Đề nghị Bộ Y tế: Bộ Y tế: hướng dẫn việc chẩn đoán và điều trị nghiện ma túy; nghiên cứu các phương pháp, bài thuốc hỗ trợ điều trị cắt cơn, chống tái nghiện; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý, sản xuất, nhập khẩu, cung ứng và dự trữ thuốc điều trị nghiện ma túy; xây dựng chương trình khung và quy định điều kiện tiêu chuẩn của các cơ sở đào tạo về điều trị nghiện; hướng dẫn các địa phương nâng cấp, phát triển các cơ sở điều trị bằng Methadone thành cơ sở điều trị nghiện toàn diện, cơ sở cấp phát thuốc thay thế thành các điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị tại cộng đồng; phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn các địa phương triển khai mô hình thí điểm điều trị nghiện ma túy, tập huấn cho cán bộ cơ sở về phương pháp điều trị nghiện ma túy.
  4. Đề nghị Bộ Công an: lồng ghép các hoạt động thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy với các hoạt động của Đề án; chủ trì phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội rà soát, phân loại người nghiện ma túy trong phạm vi cả nước; phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế hướng dẫn công tác quản lý và tổ chức điều trị nghiện tại cộng đồng; kết hợp Dự án xây dựng xã phường không có ma túy của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma túy với việc thành lập và duy trì các điểm tư vấn chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.
  5. Đề nghị Bộ Nội vụ: phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn về tổ chức bộ máy, cán bộ và hoạt động của các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện; hướng dẫn về xác định vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong hệ thống cơ sở điều trị nghiện.
  6. Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư: bố trí ngân sách hỗ trợ đầu tư có mục tiêu để xây dựng, nâng cấp, mua sắm trang thiết bị cho các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, cơ sở điều trị nghiện bắt buộc và các điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng; chủ trì hướng dẫn việc lồng ghép Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng, chống ma túy và các chương trình mục tiêu Quốc gia khác có liên quan với các hoạt động của Đề án; phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy hoạch hệ thống cơ sở điều trị nghiện ma túy.
  7. Đề nghị Bộ Tài chính: chủ trì phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn nội dung và mức chi thực hiện các hoạt động của Đề án; bố trí kinh phí hàng năm để thực hiện các hoạt động của Đề án;
  8. Đề nghị Bộ Tư pháp: chủ trì rà soát, đề xuất sửa đổi các văn bản Luật, Hiến pháp năm 1992 liên quan đến công tác dự phòng và điều trị nghiện; phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về điều trị nghiện ma túy.
  9. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo: phối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng Chương trình khung, giáo trình đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện ma túy; phối hợp xây dựng và ban hành điều kiện, tiêu chuẩn các cơ sở đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện ma túy; chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra công tác đào tạo về dự phòng và điều trị nghiện ma túy trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
  10. Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông: chủ trì xây dựng và triển khai Kế hoạch truyền thông nâng cao nhận thức về bệnh nghiện, các biện pháp dự phòng và điều trị nghiện ma túy; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan truyền thông triển khai các hoạt động truyền thông về dự phòng và điều trị nghiện ma túy.
  11. Đề nghị Các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác triển khai các hoạt động của Đề án liên quan đến chức năng nhiệm vụ của mình.
  12. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Đề án phù hợp với tình hình tại địa phương; chủ động bố trí kinh phí, nhân lực, vật lực cho công tác dự phòng và điều trị nghiện; chỉ đạo, hướng dẫn các ngành, các cấp tại địa phương khảo sát đánh giá chính xác về tình hình nghiện ma túy trên cơ sở đó xây dựng và thực hiện đề án đổi mới hệ thống cơ sở điều trị nghiện phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và khu vực: tổ chức sắp xếp lại hệ thống cơ sở điều trị nghiện, điểm tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng .
  13. Đề nghị Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên: tuyên truyền, vận động các tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân tham gia vào công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy, hỗ trợ giúp đỡ người bệnh trong quá trình điều trị nghiện ma túy; giám sát, kiểm tra các cơ quan, tổ chức trong việc triển khai công tác dự phòng và điều trị nghiện ma túy.

 

 

 

Phần 3
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỀ ÁN

  1. Xác định vấn đề

Nghiện ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; số người nghiện ma túy đang gia tăng trên toàn thế giới và ở Việt Nam đã có trên 170.000 người nghiện và con số này đang nên vấn đề sức khỏe, đói nghèo, bạo lực, phát triển kinh tế – xã hội và an ninh đối với đất nước.

Việc Nhà nước nỗ lực cai nghiện phục hồi, phòng ngừa sử dụng ma túy thông qua biện pháp nhân đạo là quy định về cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc (đưa vào các cơ sở cai nghiện) song chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.

Việc xây dựng Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tại Việt Nam phải thể hiện tinh thần ngày càng tiếp cận đến tiêu chuẩn tối thiểu trong nguyên tắc điều trị cai nghiện ma túy của quốc tế (nghiện là bệnh), đẩy mạnh công tác dự phòng nghiện, tăng cường đầu tư phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ của nhà nước và tư nhân, thể chế hóa những nội dung liên quan thành lập, hoạt động các cơ sở cai nghiện bắt buộc, tự nguyện; chế độ chính sách cho cán bộ, người tham gia cai nghiện; đào tạo cán bộ, nhân viên, chương trình, giáo trình và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học kỹ thuật, tài chính trong điều trị cai nghiện phục hồi phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

  1. Mục tiêu của xây dựng Đề án

Nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động dự phòng và điều trị nghiện nhằm góp phần giảm tác hại của nghiện ma túy, kiềm chế sự gia tăng số người nghiện mới.

  1. Các phương án lựa chọn:

Có 2 phương án lựa chọn

– Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng (Không ban hành Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy).

– Phương án 2: Ban hành Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tại Việt Nam.

  1. Đánh giá tác động từng phương án

4.1. Tác động của Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng (Không ban hành Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy)

  1. a) Mặt lợi ích

– Về chính sách: Luật phòng, chống ma túy năm 2000, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 đã triển khai đến nay đã được Bộ Lao động – Thương binh và xã hội tham mưu Chính phủ ban hành; phối hợp với các Bộ, ngành ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn lĩnh vực cai nghiện ma túy và cơ bản đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động  cai nghiện ma túy.

– Về kinh tế:

+ Tiết kiệm chi phí hàng năm việc do gần 50.000 người nghiện ma túy được đưa đi cai nghiện bắt buộc (tính bình quân mỗi ngày một người 150.000 đồng/người/ngày) thì gần 2.500 tỷ đồng/năm. Giảm chi phí các hoạt động xét xử, hình sự do người nghiện ma túy vi phạm an ninh trật tự tại cộng đồng (khoảng 70% các tội phạm ở cộng đồng do người nghiện ma túy gây ra (báo cáo của thành phố Hồ Chí Minh).

+ Không tốn chi phí để nghiên cứu thay đổi hệ thống chính sách pháp luật, chi phí cải tạo nâng cấp cơ sở mới, đào tạo cán bộ theo quan điểm tiếp cận mới trong điều trị nghiện.

– Về an ninh trật tự và xã hội:

+ Người dân cảm thấy được bình yên do người nghiện ma túy được đưa đi cai nghiện bắt buộc, không gây ra tình hình tội phạm (trộm cắp, cướp giật…), những hình ảnh thiếu thiện cảm như (chích, hút nơi công cộng…) giảm đáng kể.

+ Người nghiện ma túy được chăm sóc, quản lý theo quan điểm là tệ nạn xã hội và bị kỳ thị, phân biệt đối xử.

– Về phát triển nguồn nhân lực và tổ chức thực hiện.

+ Cán bộ công tác kiêm nhiệm ở xã phường, thị trấn và 6.118 cán bộ tại các Trung tâm cai nghiện được duy trì.

+ Các Trung tâm cai nghiện, các Tổ công tác cai nghiện tại cộng đồng do chính quyền xã thành lập được duy trì và phát triển để thực hiện chức năng cai nghiện ma túy và quản lý sau cai.

  1. b) Mặt hạn chế:

– Về chính sách: Triển khai Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 và các văn bản hướng dẫn trong thực tế thấy xuất hiện nhiều bất cập, như:

+ Quan điểm xây dựng luật: xử lý vấn đề nghiện ma túy là tệ nạn xã hội không phù hợp với các hướng dẫn quốc tế về nghiện ma túy và điều trị nghiện (nghiện là bệnh) nên hiệu quả chưa cao;

+ Cai nghiện ma túy không dựa vào bằng chứng khoa học mà dựa vào xử phạt hành chính nên hiệu quả không cao;

+ Xã hội hóa công tác cai nghiện chưa huy động được các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác cai nghiện, quản lý sau cai. Nội dung biện pháp cai nghiện chưa thực sự phù hợp;

+ Chính sách đầu tư cho công tác cai nghiện, quản lý sau cai chưa chú trọng đến nội dung nâng cao chất lượng, hiệu quả của điều trị, cai nghiện.

– Về kinh tế:

+ Duy trì hệ thống Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tốn kém, lãng phí, không sử dụng hết công suất…và không phù hợp với quan điểm tiếp cận điều trị nghiện ma túy hiện nay; trong khi nhiều lĩnh vực thiếu cơ sở như cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở nuôi dưỡng người tâm thần….

+ Tiếp nhận mỗi năm gần 50.000 người vào cai nghiện nhà nước phải chi phí gần 1.300 tỷ đồng từ ngân sách nhà để hỗ trợ người nghiện cai nghiện ma túy, tuy nhiên hiệu quả sau cai thấp.

+ Học viên phải lao động để đảm bảo chi phí cai nghiện tại Trung tâm dễ bị nhìn nhận là lao động cưỡng bức hoặc lao động không được trả công xứng đáng.

+ Người sau cai nghiện trở về vẫn chi tiền ra sử dụng ma túy (70-80%: tương đương khoảng: 40.000 người) thì vẫn tốn gần 2.100 tỷ đồng/năm cho việc sử dụng ma túy.

– Về an ninh trật tự và xã hội:

+ Phần lớn người sau cai nghiện trở về vẫn tái nghiện và dẫn đến có những hành vi vi phạm pháp luật.

+ Về sức khỏe: người nghiện ma túy bị kỳ thị phân biệt đối xử, không được tư vấn, điều trị theo quan điểm hiện nay là bệnh. Hạn chế về chăm sóc sức khỏe dẫn đến sốc quá liều, lây nhiễm HIV viêm gan B, C và lao cho bản thân và cộng đồng.

– Về phát triển nguồn nhân lực:

+ Không hình thành được đội ngũ cán bộ chuyên trách, chuyên nghiệp để họ thực hiện công tác chăm sóc điều trị nghiện tại cộng đồng nên quả không cao.

+ 6.118 cán bộ tại Trung tâm vẫn phải làm công việc với áp lực cao và kết quả công việc thì không được như họ mong đợi.

  1. c) Tác động tiêu cực khác

Trên thế giới, việc sử dụng, nghiện ma túy, điều trị nghiện ma túy có quan hệ mật thiết với các nguy cơ lây nhiễm HIV, viêm gan B, C, Lao và vấn đề an ninh xã hội. Hiện nay nghiện ma túy được coi là bệnh mãn tính, phải chữa trị lâu dài và đòi hỏi cán bộ điều trị nghiện phải có kiến thức chuyên môn sâu về ma túy, điều trị nghiện ma túy. Nghiện ma túy chủ yếu được điều trị tự nguyện tại cộng đồng thay vì điều trị bắt buộc tại Trung tâm. Do vậy, về lâu dài nếu vẫn tiếp tục tiếp cận nghiện ma túy là tệ nạn xã hội, điều trị, cai nghiện được thì vừa tốn kém kinh phí, vừa làm cho cán bộ, người nghiện ma túy thiếu lòng tin cho các chương trình điều trị do vậy hiệu quả thấp. Ngoài ra hệ thống cai nghiện hiện nay cũng không đảm bảo được quyền được hưởng cấc dịch vụ y tế tốt nhất của người nghiện dẫn tới việc lạm dụng một số quyền cơ bản của người nghiện trong quá trình cai nghiện bắt buộc.

4.2. Tác động của Phương án 2: Ban hành Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy.

  1. a) Mặt lợi ích

Từ nhiều năm nay, cai nghiện ma túy được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, đồng thời tăng cường đầu tư, nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đối với công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy.

Chỉ thị 21 – CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới có đánh giá “tình trạng sử dụng trái phép các chất ma túy vẫn có xu hướng gia tăng, lan rộng tại một số địa bàn. Kết quả cai nghiện chưa cao, kinh phí đầu tư cho phòng, chống ma túy còn hạn chế”. Chỉ thị cũng khẳng định “ Tiếp tục xây dựng kiện toàn các văn bản quy phạm pháp luật; củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy; đổi mới nội dung và đẩy mạnh tuyên truyền; hỗ trợ giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy;  đẩy mạnh xã hội hóa công tác cai nghiện; không phân biệt đối xử với người nghiện ma túy và tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế; huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và nhân dân”.

Với tinh thần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện phục hồi, đưa Chỉ thị của Bộ Chính trị vào cuộc sống, cần phải đối mới phương thức, cách thức tổ chức cai nghiện mà trước hết là xây dựng một Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy, tạo tiền đề cho việc thay đổi chính sách trong công tác cai nghiện ma túy nhằm giải quyết những những bất cập của công tác cai nghiện hiện nay, cụ thể:

– Về mặt chính sách:

+ Xây dựng hệ thống chính sách về cai nghiện phù hợp với quan điểm tiếp cận nghiện ma túy là bệnh; và thống nhất, đồng bộ với các văn bản về khám, chữa bệnh hiện nay;

+ Thuận lợi cho việc triển khai các chương trình điều trị nghiện theo quan điểm mới, người nghiện ma túy là người bệnh và điều trị đáp ứng được yêu cầu đặc thù trong điều trị nghiện ma túy;

+ Tạo được sự bình đẳng và cân bằng về mặt pháp lý trong việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các cơ sở điều trị nghiện công lập và cơ sở điều trị nghiện ngoài công lập phù hợp với tình hình phát triển nền kinh tế thị trường, xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động cai nghiện ma túy và yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay;

+ Tổ chức hiệu quả hơn khi quy định rõ ràng các cơ quan, đơn vị, tổ chức chuyên trách về điều trị nghiện ma túy ma túy.

– Về kinh tế:

+ Không phải chi phí cho việc sử dụng ma túy của 250.000 người nghiện hàng năm tiết kiệm cho xã hội khoảng 9.000 tỷ đồng;

+ Giảm chi phí cho công tác cai nghiện ma túy tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc từ 22.000.000 đồng/người/năm còn khoảng 6.000.000 đồng/người/năm đối với cơ sở điều trị tự nguyện (giảm 16.000.000/người/năm) và 50.000 người cai nghiện hàng năm giảm được 800 tỷ đồng;

+ Huy động được sự tham gia đóng góp của người nghiện khi tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng khoảng  141.052 tỷ đồng.

+ Giảm chi phí các hoạt động xét xử, hình sự do người nghiện ma túy vi phạm an ninh trật tự tại cộng đồng.

+ Cải thiện kinh tế gia đình của các hộ gia đình đã lâm vào cảnh cùng kiệt do sử dụng các chất gây nghiện của người bệnh, tăng thời gian người bệnh tham gia các vào cung ứng các dịch vụ xã hội để tạo tài sản thay vì mất đi tài sản do các hành vi sử dụng ma túy.

+ Cải thiện sức khỏe cho người nghiện đưa họ trở về cuộc sống bình thường, tăng cơ hội tìm việc làm.

– Về mặt an ninh trật tự, xã hội

+ Do xây dựng chương trình cai nghiện mới, phù hợp, dễ tiếp cận nên người nghiện ma túy sẽ chủ động tham gia các chương trình chữa bệnh, ít vi phạm pháp luật vì được cung cấp đầy đủ các dịch vụ tối thiểu trong quá trình điều trị.

+ Giảm phân biệt đối xử với người có hoàn cảnh đặc biệt như sự mặc cảm và kỳ thì đối người thân người nghiện

+ Hiệu quả chi phí điều trị cho người bệnh trong mô hình (có áp dụng dùng methadone thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện) sẽ làm giảm số nhiễm HIV mới, giảm chi phí cho các dịch vụ liên quan đến HIV/AIDS, giảm tác động của HIV lên kinh tế, xã hội.

– Phát triển nguồn nhân lực và chất lượng điều trị, cai nghiện

+ Hình thành hệ thống điều trị, chăm sóc người nghiện chuyên nghiệp với tổ chức bộ máy và cán bộ phù hợp.

+ Tiếp thu và vận dụng có chọn lọc các tiến bộ về điều trị nghiện trên thế giới, đảm bảo các phương pháp điều trị phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta.

+ Thời gian dành cho tiếp cận dịch vụ và khoảng thời gian cần cho điều trị nghiện thích hợp để người bệnh vẫn có thể tiếp tục học tập (tạo nghề) hoặc tiếp tục các công việc có thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình.

  1. b) Mặt hạn chế

– Về mặt chính sách, nhận thức: Để thay đổi chính sách, nhận thức cần có thời gian.

– Về kinh phí: Tăng ngân sách trong những năm đầu: để nghiên cứu, thay đổi chính sách, nội dung, chương trình, đào tạo, tuyên truyền, đầu tư thí điểm mô hình, chuyển đổi Trung tâm, hình thành cơ sở mới;

– Về mặt an ninh trật tự: bước đầu khi chuyển đổi, một số người nghiện sẽ vẫn sử dụng ma túy bất hợp pháp, khi chưa cung cấp đầy đủ các chương trình hỗ trợ cùng một lúc.

  1. Kết luận

Như đã phân tích tại phần 4.1- Phương án 1 và 4.2 – Phương án 2, Chương trình cai nghiện ma túy đã được hình thành và phát triển gần 20 năm, mặc dù đã đóng góp nhiều mặt tích cực cho công tác chăm sóc, hỗ trợ người nghiện ma túy cũng như góp phần ổn định an ninh, trật tự xã hội, song để khắc phục những hạn chế đã phân tích tại mục 4.1 nhằm đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy và phù hợp quan điểm của quốc tế (nghiện là bệnh) nên cần thực hiện theo Phương án 4.2 về thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tại Việt Nam để từng bước hình thành hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc đổi mới công tác cai nghiện, tổ chức thực hiện cai nghiện… góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định an ninh trật tự, phát triển kinh tế – xã hội.

Việc thực hiện các nội dung của Đề án sẽ đáp ứng được yêu cầu của công tác dự phòng, điều trị nghiện trong điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam và phù hợp với các hướng dẫn quốc tế và các công ước quốc tế liên quan đến điều trị, cai nghiện ma Việt Nam đã tham gia.

Phần 4
RỦI RO CỦA ĐỀ ÁN

  1. Rủi ro

– Quan điểm người nghiện ma túy là người bệnh cần được tiếp cận với các dịch vụ điều trị như những người mắc các bệnh khác Đề án đặt ra còn khá mới mẻ đối với chính quyền các cấp cũng như các tầng lớp nhân dân, do vậy rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện có thể xảy ra là thiếu sự đồng thuận trong việc chuyển đổi các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội thành các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện, hạn chế việc cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện;

– Việc chuyển đổi các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội thành các cơ sở điều trị nghiện tự nguyện làm thay đổi tổ chức bộ máy, cán bộ Trung tâm ảnh hưởng đến quyền lợi của một số tổ chức, cá nhân tại địa phương, do vậy không muốn chuyển đổi;

– Trong bối cảnh kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều biến động, do vậy trong quá trình đầu tư của nhà nước cũng như đóng góp của nhân dân để triển khai các hoạt động đề án sẽ có các rủi ro về mặt đầu tư của nhân dân trong thực hiện.

  1. Biện pháp khắc phục rủi ro

Để hạn chế rủi ro có thể xảy ra, Đề án đã đề cập đến các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp và cán bộ nhân dân về nghiện ma túy và điều trị nghiện ma túy theo thiết kế của Đề án.

Phân công rõ trách nhiệm các ngành các cấp trong việc triển khai các hoạt động Đề án và huy động cộng đồng, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và nhân dân cùng tham gia./.

 

Nơi nhận:

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội;

– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

– Văn phòng Quốc hội;

– Văn phòng Chủ tịch nước;

– Toà án nhân dân tối cao;

– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; 

– Website Bộ LĐTBXH;

– Lưu: VT, PCTNXH (05b).

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

 

 

(Đã ký)

 

 

Nguyễn Trọng Đàm

 

 

 

 

Phụ lục 1

 

TỔNG KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

 

Đơn vị tính: Tỷ đồng

STT Tổng kinh phí       6.443
1 a. Giai đoạn 2013 – 2015:        2.146
2 – Kinh phí nhà nước       2.128
3 + Kinh phí thuộc đề án sản xuất và sử dụng methadon       2,026
4 + Kinh phí thuộc Dự án 5 Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma túy giai đoạn 2011 – 2015:          103
5 – Kinh phí viện trợ:              1,2
7 b. Giai đoạn 2016 – 2020:       4,297  
8 – Kinh phí đảm bảo xã hội theo luật ngân sách          389
9 – Kinh phí huy động đóng góp của người bệnh       3.905
10 – Kinh phí viện trợ quốc tế:  tỷ đồng.

 

 

 

 

Phụ lục 2
DỰ TOÁN KINH PHÍ CHO MỘT CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN TỰ NGUYỆN  (PHẦN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ)
                 

 

STT Mã hoạt động Nội dung hoạt động  Số lượng Đơn vị tính  Thời gian Đơn vị tính  Định mức Tổng
1 2 3 4 5 6 7 8 9
2    CHI PHI 1 LẦN
3 A  PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ THEO MMT CỦA MOH            
4 B  ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TRONG ĐỀ ÁN NÀY            
5 I  Nhà cửa TTB
6 I.1  Sửa chữa nhà cửa sẵn có theo tiêu chuẩn điều trị và đơn giá sửa chữa/m2 cho bệnh nhân ngoại trú cho  150 bệnh nhân          150  Bệnh nhân        1.60  m2              2,150,000                  516,000,000
7 1.2  Sửa chữa nhà cửa sẵn có theo tiêu chuẩn điều trị và đơn giá sửa chữa/m2 cho bệnh nhân nội trú cho 150 bệnh nhân            30  Giường               4  m2              2,150,000                  258,000,000
8 1.3  Phòng cấp cứu 3 giường/130 giường bệnh (ước lượng với 6% nguy cơ người có khả năng phải cấp cứu trong quá trình dò liều theo lý thuyết)              1  phòng        20.00  m2              2,150,000                    43,000,000
9 1.4  Phòng sinh hoạt tập thể              1  phòng        24.00  m2              2,150,000                    51,600,000
10 1.5  Phòng bếp 10 mâm  cho 60 người 1 lượt ăn 30phút              1  phòng        40.00  m2              2,150,000                    86,000,000
11 1.5  Sửa chữa nhà cửa sẵn có theo tiêu chuẩn phòng khám ngoại trú, làm 1 lần, tính 30-50 lượt bệnh nhân/giờ trong 3 giờ/ngày cho 200 bệnh nhân ngoại trú và 100 khách khác và nhân viên,            30  lượt/ngày            0.5  m2              2,150,000                    32,250,000
12  Tổng cộng                  986,850,000
13 I.2  Mua sắm trang thiết bị
14 I.2.1  TTB ban đầu chung
15 1 Camera theo dõi (1 camera, 6 đầu thu)              1 bộ               1  lần 30,000,000                    30,000,000
16 2 Máy ảnh KTS              1 chiếc               1  lần 10,000,000                    10,000,000
17 3 Đầu đọc mã vạch              1 chiếc               1  lần 3,000,000                      3,000,000
18 I.2.2  TTB y tế  lần
19 1 Tủ đựng thuốc và trang thiết bị cấp cứu              1  chiếc               1  lần 2,000,000                      2,000,000
20 2 Bộ trang thiết bị cấp cứu ban đầu              1  chiếc               1  lần 15,000,000                    15,000,000
21 3 Cáng cứu thương              1  chiếc               1  lần 1,200,000                      1,200,000
22 4 Giường bệnh nhân              1  chiếc               1  lần 2,400,000                      2,400,000
23 5 Máy đo huyết áp và ống nghe thủy ngân              1  chiếc               1  lần 1,200,000                      1,200,000
24 6 Cân sức khoẻ              1  chiếc               1  lần 1,000,000                      1,000,000
25 7 Nhiệt kế thuỷ ngân            10  chiếc               1  lần 15,000                         150,000
26 8 Bàn lấy máu              1  chiếc               1  lần 800,000                         800,000
27 9 Xe bàn tiêm 2 tầng              1  chiếc               1  lần 900,000                         900,000
28 10 Tủ lạnh              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
29 11 Bình lạnh đựng mẫu máu              1  chiếc               1  lần 1,000,000                      1,000,000
30 12 Hoá chất và các vật dụng cần thiết khác 2,000,000                      2,000,000
32 I.3  Bổ sung trang thiết bị cho CSĐT          
33 Khu vực đón tiếp bệnh nhân & bảo vệ
34 1 Biển hiệu CSĐT 1 chiếc 1  lần 2,000,000 2,000,000
35 2 Quạt trần              1  chiếc               1  lần                 600,000                         600,000
36 3 Bộ bàn ghế bảo vệ              1  bộ               1  lần 1,500,000                      1,500,000
37 4 Ghế chờ cho bệnh nhân            25  chiếc               1  lần 250,000                      6,250,000
38 5 Ghế ngồi cho người bệnh và người nhà            15  chiếc               1  lần 250,000                      3,750,000
39 6 Tivi              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
40 7 Giá đỡ tivi              1  chiếc               1  lần                 150,000                         150,000
41 8 Đầu đĩa              1  chiếc               1  lần 3,000,000                      3,000,000
42 9 Tủ nhân viên              1  chiếc               1  lần 2,000,000                      2,000,000
43 10 Bộ bàn ghế làm việc              1 bộ               1  lần 1,500,000                      1,500,000
44 11 Tủ đựng hồ sơ thường kỳ              2  chiếc               1  lần 2,000,000                      4,000,000
45 12 Tủ lưu hồ sơ có khoá              2  chiếc               1  lần 3,500,000                      7,000,000
46 13 Giá để tài liệu tư vấn, truyền thông              2  chiếc               1  lần 1,000,000                      2,000,000
47 14 Quạt điện cây              4  chiếc               1  lần 500,000                      2,000,000
48 15 Máy tính              1  bộ               1  lần 10,000,000                    10,000,000
49 16 Máy in              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
50 17 Bộ lưu điện              1  chiếc               1  lần              2,500,000                      2,500,000
51 18 Điện thoại              1  chiếc               1  lần 300,000                         300,000
52 19 Máy fax              1  chiếc               1  lần 2,500,000                      2,500,000
53 20 Bộ giá để cốc cho bệnh nhân uống nước              1  bộ               1  lần 1,000,000                      1,000,000
54 21 Bộ cốc chén uống nước cho nhân viên              1  bộ               1  lần 1,000,000                      1,000,000
55 22 Giường gấp cho bảo vệ trực đêm              1  chiếc               1  lần 1,000,000                      1,000,000
56 23 Đồng hồ              1  chiếc               1  lần 250,000                         250,000
57 24 Chăn, màn, gối cho BV trực đêm              1  bộ               1  lần                 500,000                         500,000
59 Phòng hành chính dược và Phát thuốc
60 1 Biển hiệu phòng 1 chiếc 1  lần 100,000 100,000
61 2 Ghế chờ cho bệnh nhân              5  chiếc               1  lần 250,000                      1,250,000
62 3 Tủ nhân viên              1  chiếc               1  lần 2,000,000                      2,000,000
63 4 Bộ bàn ghế làm việc              1 bộ               1  lần 1,500,000                      1,500,000
64 5 Tủ đựng hồ sơ dược hàng ngày              1  chiếc               1  lần 2,000,000                      2,000,000
65 6 Tủ lưu hồ sơ dược có khoá              1  chiếc               1  lần 3,500,000                      3,500,000
66 7 Máy tính              1  bộ               1  lần 10,000,000                    10,000,000
67 8 Máy in              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
68 9 Bộ lưu điện              1  chiếc               1  lần              2,500,000                      2,500,000
69 10 Điện thoại              1  chiếc               1  lần 300,000                         300,000
70 11 Bộ giá để cốc cho bệnh nhân uống thuốc              1  bộ               1  lần 1,000,000                      1,000,000
71 12 Máy lọc nước uống              1  chiếc               1  lần              3,800,000                      3,800,000
72 13 Điều hòa 9000BTU              1  chiếc               1  lần              8,000,000                      8,000,000
73 14 Két sắt bảo quản thuốc chính              1  chiếc               1  lần 8,000,000                      8,000,000
74 15 Két nhỏ đựng thuốc lẻ              1  chiếc               1  lần 2,000,000                      2,000,000
76 Phòng tư vấn
77 1 Ghế gấp              2  chiếc               1  lần                 250,000                         500,000
78 2 Bàn đơn (cho ngồi 2 ghế)              1  chiếc               1  lần              1,000,000                      1,000,000
79 3 Bảng thông báo              1  chiếc               1  lần                 200,000                         200,000
80 4 Điều hoà              1  chiếc               1  lần 8,000,000                      8,000,000
81 5 Tivi              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
82 6 Giá đỡ tivi              1  chiếc               1  lần                 150,000                         150,000
83 7 Đầu đĩa              1  chiếc               1  lần 3,000,000                      3,000,000
84 8 Đồng hồ treo tường              1  chiếc               1  lần                 250,000                         250,000
85 9 Giá để tài liệu tư vấn, truyền thông              2  chiếc               1  lần 1,000,000                      2,000,000
86 10 Điện thoại tư vấn viên              1  chiếc               1  lần 300,000                         300,000
87 11 Điện thoại khách              1  chiếc               1  lần 300,000                         300,000
89 Phòng khám và điều trị (1 phòng)
90 1 Ghế gấp              3  chiếc               1  lần                 300,000                         900,000
91 2 Giá để hồ sơ hàng ngày              1  chiếc               1  lần              2,000,000                      2,000,000
92 3 Bộ sơ cấp cứu và bình oxy              1  chiếc               1  lần              8,000,000                      8,000,000
93 4 Bảng trắng              1  chiếc               1  lần                 200,000                         200,000
94 5 Ghế đẩy bệnh nhân              1  chiếc               1  lần              1,000,000                      1,000,000
95 6 Điều hòa 9000BTU              1  chiếc               1  lần              8,000,000                      8,000,000
96 7 Giường bệnh            30  chiếc               1  lần              2,000,000                    60,000,000
97 8 Giường cấp cứu              3  chiếc               1  lần            10,000,000                    30,000,000
98 9 Điện thoại phòng khám              1  chiếc               1  lần 300,000                         300,000
99 13 Đồng hồ treo tường              1  chiếc               1  lần                 250,000                         250,000
101 Kho thuốc
102 1 Hệ thống báo động tự động              1  chiếc               1  lần            12,000,000                    12,000,000
103 2 Máy hút ẩm              1  chiếc               1  lần              5,500,000                      5,500,000
104 3 Điều hòa 9000BTU              1  chiếc               1  lần              8,000,000                      8,000,000
106 Phòng xét nghiệm                                  –
107 1 2 ghế inox              2  chiếc               1  lần              1,000,000                      2,000,000
108 2 Tủ đựng dụng cụ XN inox              1  chiếc               1  lần              2,000,000                      2,000,000
109 3 Ghế gấp              2  chiếc               1  lần                 300,000                         600,000
111 Phòng họp và nơi làm việc của BS trưởng CSĐT                                  –
112 1 Máy tính              1  bộ               1  lần 10,000,000                    10,000,000
113 2 Máy in              1  chiếc               1  lần 5,000,000                      5,000,000
114 3 Bộ lưu điện              1  chiếc               1  lần              2,500,000                      2,500,000
115 4 Tivi              1  chiếc               1  lần              5,000,000                      5,000,000
116 5 Giá đỡ tivi              1  chiếc               1  lần                 150,000                         150,000
117 6 Ghế gấp            12  chiếc               1  lần                 300,000                      3,600,000
118 7 Bộ bàn ghế phòng họp              1  bộ (1 bàn, 20 ghế)               1  lần 6,000,000                      6,000,000
119 8 Ghế nhựa loại nhỏ              6  chiếc               1  lần                   60,000                         360,000
120 9 Giá đựng tài liệu              1  chiếc               1  lần              1,000,000                      1,000,000
121 10 Điều hòa 9000BTU              1  chiếc               1  lần              8,000,000                      8,000,000
122 11 Đồng hồ treo tường              1  chiếc               1  lần                 150,000                         250,000
123 11 Bảng trắng              1  chiếc               1  lần                 200,000                         200,000
125   Tổng công cơ sở điều trị Trang thiết bị Cơ sở điều trị                  394,910,000
126   CỘNG CHI PHÍ 1 LẦN chi phí cơ sở điều trị nội trú và ngoại trú (tổng chung cho mới thành lập)               1,381,760,000
127 A Chi phí sửa chữa một lần 60 cơ sở MMT theo đề án MMT (không có giường bệnh và giường cấp cứu)          820,910,000                  516,000,000
128 A Chi phí TTB 60 cơ sở chỉ điều trị MMT theo đề án MMT (không có giường bệnh và giường cấp cứu)                  304,910,000
129 B Chi phí cơ sở chỉ điều trị ngoại trú (đã có MMT rồi, thêm điều trị nội trú có giường bệnh và giường cấp cứu)                  865,760,000
130   Tính khấu hao bình quân trên đầu bệnh nhân 150 người/cơ sở/năm trong 10 năm MMT mới thành lập                         900,000
131   Tính khấu hao bình quân trên đầu bệnh nhân 150 người/cơ sở/năm trong 10 năm ngoại trú đã có điều trị MMT                         500,000
132 Tính khấu hao bình quân trên đầu bệnh nhân 150 người/cơ sở/năm trong 10 năm thêm nội trú                         600,000
133    CHI PHI THƯỜNG KỲ
134 II.2  Họp xét chọn bệnh nhân  
135 1  Họp ban xét chọn bệnh nhân tuyến xã/ phường  3 người/xã phường x 15 xã/phường, họp 2 tháng/lần  
136 1  Giải khát giữa giờ            45  người               3  lần 16,000 2,160,000
137 2  Photo tài liệu            45  người               3  lần 10,000 1,350,000
138    Tổng cộng                                3,510,000
139 2  Họp ban xét chọn bệnh nhân tuyến thành phố  
140 1  Giải khát giữa giờ              5  người               6  lần 16,000 480,000
141 2  Photo tài liệu              5  người               6  lần 10,000 300,000
142    Tổng cộng                                   780,000
143 II.3  Hoạt động điều trị            
144 1  Thuốc Methadone Bộ y tế cấp theo Đề án Methadone 1,000  lít 1  năm                 900,000                  900,000,000
145    Tổng cộng                            900,000,000
146 2  Xét nghiệm  
147 1  Công thức máu          150  bệnh nhân               3  lần                   40,000                    18,000,000
148 2  AST/ALT          150  bệnh nhân               3  lần                   40,000                    18,000,000
149 3  Phí xét nghiệm HBV  bệnh nhân               3  lần                   50,000                                  –
150 4  Phí xét nghiệm HCV  bệnh nhân               3  lần                 100,000                                  –
151 5  Phí xét nghiệm HIV  bệnh nhân               3  lần                 100,000                                  –
152 6  Sinh phẩm xét nghiệm tìm chất gây nghiện  bệnh nhân               6  lần                   30,000                                  –
153 11  Xét nghiệm khác do bác sỹ chỉ định (sinh hóa, X quang, siêu âm, điện tim…)            14  bệnh nhân               6  Tháng                 300,000                    25,200,000
154    Tổng cộng                    61,200,000
155 3  Vật tư tiêu hao
156 1  Dụng cụ lấy máu          150  bệnh nhân               6  lần                     5,000                      4,500,000
157 2 Ống nghiệm lấy máu          300  chiếc               1  lần 1,500                         450,000
158 3 Cốc lấy nước tiểu          900  chiếc               1  lần 1,000                         900,000
159 4 Kim tiêm lấy máu          450  chiếc               1  lần 2,000                         900,000
160 5 Que thử nước tiểu          900  chiếc               1  lần 2,000                      1,800,000
161 6  Cốc uống thuốc dùng CHO 01 BỆNH NHÂN          150  bệnh nhân               1  năm                   36,500                      5,475,000
162  Tổng cộng                    14,025,000
163 4  Thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội
164 1  Các thuốc chống nấm 40% bệnh nhân            60  bệnh nhân               1  năm                 500,000                    30,000,000
165 2  Các thuốc ARV 10% bệnh nhân            15  bệnh nhân               1  năm              6,000,000                    90,000,000
166 3  Các thuốc bổ/bổ dưỡng 40% bệnh nhân            60  bệnh nhân               1  năm                 400,000                    24,000,000
167    Tổng cộng                  144,000,000
168 II.4  Lương cán bộ làm việc tại CSĐT            
169 1  Bác sỹ điều trị (gồm cả phụ trách cơ sở điều trị)              2  người             12  Tháng              7,100,000                  170,400,000
170 2  Dược sỹ đại học phòng cấp phát thuốc  người             12  Tháng              5,000,000                                  –
171 3  Dược sỹ trung họcphòng cấp phát thuốc              1  người             12  tháng              2,500,000                    30,000,000
172 4  Tư vấn viên              1  người             12  Tháng              2,500,000                    30,000,000
173 5  Cán bộ xét nghiệm              1  người             12  Tháng              2,500,000                    30,000,000
174 6  Cán bộ hành chính/kế toán/thủ quĩ              2  người             12  Tháng              2,500,000                    60,000,000
175 7  Điều dưỡng hỗ trợ bác sỹ và hành chính              1  người             12  Tháng              2,100,000                    25,200,000
176 8  Lương cho bảo vệ              2  người             12  Tháng              2,100,000                    50,400,000
177 10  Bảo hiểm (22% tổng quỹ lương)                    87,120,000
178    Tổng cộng                            483,120,000
179 II.5  Chi phí vận hành cho CSĐT
180 1  Lắp đặt đường điện thoại, fax, internet              2  đường               1  lần                 500,000                      1,000,000
181 2  Photo tài liệu (phiếu chuyển gửi, giấy hẹn, biểu mẫu khác…)              1  cơ sở             12  tháng 500,000                      6,000,000
182 3  Bệnh án          350  bệnh án               1  lần 10,000                      3,500,000
183 4  Đồng phục            11  người               1  lần 500,000                      5,500,000
184 5  Văn phòng phẩm, điện thoại, điện nước, internet, fax              1  cơ sở             12  tháng 1,000,000                    12,000,000
185 6  Hộ lý dọn dẹp hàng ngày              1  cơ sở             12  tháng 1,000,000                    12,000,000
186 7  Thuê hủy rác thải y tế (chai Methadone và vật dụng khác)              1  cơ sở             12  tháng 500,000                      6,000,000
187 8  Chi khác              1  cơ sở             12  tháng 500,000                      6,000,000
188    Tổng cộng                    52,000,000
189 II.6  Hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ từ TT Phòng, chống bệnh xã hội (khoa tâm thần)  10 lần (tháng đầu tiên: 4 lần, tháng thứ hai: 2 lần, từ tháng thứ 3: mỗi tháng 1 lần)  
190 1  Soạn bài , thẩm định, biên tập              1  người             24  trang 80,000                      1,920,000
191 2  Giảng bài            10  lần               2  buổi 500,000                    10,000,000
192 3  Ăn trưa              1  người             10  ngày 75,000                         750,000
193    Tổng cộng                    12,670,000
194 II.7  Họp Ban Chỉ đạo chương trình MMT hàng quý ( 20 người)  
195 1  Hỗ trợ đi lại cho Ban chỉ đạo (15 người)            15  người               4  buổi 310,000                    18,600,000
196 2  Giải khát giữa giờ            20  người               4  buổi 20,000                      1,600,000
197 3  Photo tài liệu            20  người               4  buổi 10,000                         800,000
198 4  Soạn bài , thẩm định, biên tập              1  người               6  trang 80,000                         480,000
199 5  Công trình bày              2  lần               1  buổi 500,000                      1,000,000
200    Tổng cộng                    22,480,000
201 II.8  Họp hàng quý giữa BQLDA tỉnh với chương trình điều trị MMT và các cơ sở liên quan            
202 1  Giải khát giữa giờ            20  suất               4  lần                   16,000                      1,280,000
203 2  Photo tài liệu            20  quyển               4  cuộc                   10,000                         800,000
204 3  Dự phòng                      3,518,000
205    Tổng cộng                                5,598,000
206   TỔNG CỘNG CHI PHÍ THƯỜNG KỲ có tính MMT, có tính lương, có tính thuốc OIs               1,685,358,000
207   TỔNG CỘNG CHI PHÍ THƯỜNG KỲ không tính MMT, có tính lương, có tính thuốc OIs                  785,358,000
208   MMT                  900,000,000
209   Lương cơ sở điều tra                  483,120,000
  TỔNG CỘNG CHI PHÍ THƯỜNG KỲ không tính MMT, không tính lương, có tính thuốc OIs                  302,238,000
  TỔNG CỘNG CHI PHÍ THƯỜNG KỲ không tính MMT, không tính lương, không tính thuốc OIs                  158,238,000
210   Chi phí tính trên mỗi 1 bệnh nhân được điều trị tại Trung tâm mở  trong 1 năm (làm tròn) (Không tính thuốc Methadone)                      2,200,000

 

 

 

Phụ lục 3
DỰ TOÁN KINH PHÍ ĐIỂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIÊN  TẠI CỘNG ĐỒNG
(TÍNH 50 NGƯỜI NGHIỆN/ĐIỂM)
                 

 

STT Mã hoạt động Nội dung hoạt động  Số lượng Đơn vị tính  Thời gian Đơn vị tính  Định mức Tổng
1 2 3      4 5 6 7 8 9
2    CHI PHI 1 LẦN
3 I  Chuẩn bị triển khai chương trình
I.1  Sửa chữa nhà cửa sẵn có 
1  Phòng tiếp đón và bảo vệ  phòng             20  m2            1,500,000                              –
2  Phòng tư vấn                 1  phòng             16  m2            1,500,000                24,000,000
3  Phòng Phát thuốc và lưu trữ hồ sơ                1  phòng             16  m2            1,500,000                24,000,000
4
6  Tổng cộng                48,000,000
Chi phí tính trên khách hàng (làm tròn)                               –  
7 I.2  Mua sắm trang thiết bị
8 I.2.1  TTB ban đầu
12 4 Bộ bàn ghế làm việc Sử dụng cũ từ các TT                3 bộ  lần 1,500,000                              –
13 5 Bộ bàn ghế bảo vệ/tiếp đón Sử dụng cũ                1  bộ lần 1,500,000                              –
14 6 Ghế chờ cho bệnh nhân Sử dụng cũ              10  chiếc lần 500,000                              –
15 7 Ghế ngồi cho người bệnh và người nhà  Sử dụng cũ              10  chiếc lần 500,000                              –
16 8 Bộ bàn ghế phòng họp (1 bàn, 20 ghế) Sử dụng cũ                1  bộ lần 6,000,000                              –
17 9 Tủ đựng hồ sơ                1  chiếc               1 lần 2,000,000                  2,000,000
18 10 Tủ đựng hồ sơ có khoá                1  chiếc               1 lần 3,500,000                  3,500,000
19 11 Tủ nhân viên Sử dụng cũ  chiếc               1 lần 2,000,000                              –
20 12 Giá để tài liệu tư vấn, truyền thông                2  chiếc               1 lần 1,000,000                  2,000,000
21 13 Quạt điện Sử dụng cũ  chiếc               1 lần 500,000                              –
22 14 Máy tính                1  bộ               1 lần 10,000,000                10,000,000
23 15 Máy in                1  chiếc               1 lần 12,000,000                12,000,000
24 16 Điện thoại                1  chiếc               1 lần 300,000                     300,000
26 18 Bộ giá để cốc cho bệnh nhân uống thuốc                1  bộ               1 lần 2,000,000                  2,000,000
27 19 Bộ cốc chén uống nước cho nhân viên  bộ               1 lần 2,000,000                              –
28 20 Giường gấp cho bảo vệ trực đêm Sử dụng cũ                1  chiếc lần 1,000,000                              –
32 24 Tivi                1  chiếc               1 lần 5,000,000                  5,000,000
33 25 đầu đĩa                1  chiếc               1 lần 3,000,000                  3,000,000
34 26 Bảng thông báo                2  chiếc               1 lần 200,000                     400,000
35 27 Đồng hồ                2  chiếc               1 lần 150,000                     300,000
36 28 Các trang thiết bị cần thiết khác               1 lần 1,000,000                  1,000,000
Công                41,500,000
37 I.2.2  TTB y tế
38 1 Tủ đựng thuốc và trang thiết bị cấp cứu  chiếc               1 lần 2,000,000                              –
39 2 Bộ trang thiết bị cấp cứu ban đầu  chiếc               1 lần 15,000,000                              –
40 3 Cáng cứu thương  chiếc               1 lần 1,200,000                              –
41 4 Giường bệnh nhân  chiếc               1 lần 2,400,000                              –
42 5 Máy đo huyết áp và ống nghe thủy ngân  chiếc               1 lần 1,200,000                              –
43 6 Cân sức khoẻ  chiếc               1 lần 1,000,000                              –
44 7 Nhiệt kế thuỷ ngân  chiếc               1 lần 15,000                              –
53 16 Hoá chất và các vật dụng cần thiết khác 2,000,000                              –
54 Tổng cộng                               –  
110 Trang thiết bị chung                              –
111 1 Máy phát điện 5 KVA  chiếc               1  lần          15,000,000                              –
112 Cộng                               –  
  Tổng công                41,500,000
113   CỘNG CHI PHÍ 1 LẦN                89,500,000
Tính bình quân trên khách hàng (làm tròn)                     298,300
114    CHI PHI THƯỜNG KỲ
115 II.2  Họp xét chọn bệnh nhân  
116 1  Họp ban xét chọn bệnh nhân tuyến xã/ phường  5 người/xã phường x 15 xã/phường, họp 2 tháng/lần  
117 1  Giải khát giữa giờ                5  người             12  lần 16,000 960,000
118 2  Photo tài liệu                5  người             12  lần 10,000 600,000
119    Cộng                            1,560,000
2  XN Ma túy              50  người               3  lần 30,000 4,500,000
3  Truyền thông về đổi mới công tác điều trị nghiện  
1  Giải khát giữa giờ              50  người             12  lần 5,000 3,000,000
2  Photo tài liệu              50  người             12  lần 2,000 1,200,000
   Cộng                            4,200,000
145 1  Cán sự xã hội  người             12  Tháng 2,500,000                              –
152 2  Lương cho bảo vệ  người             12  Tháng 2,100,000                              –
153 3  Bảo hiểm (22% tổng quỹ lương)                              –
154    Cộng                                         –  
155 II.5  Chi phí vận hành cho CSĐT
156 1  Lắp đặt đường điện thoại, internet                1  đường             12  lần 300,000                  3,600,000
163 2  Chi khác (điện thoại, internet, Truyền hình CAP)  cơ sở             12  tháng 1,000,000                              –
                 3,600,000
 Chi phí tư vấn người được điều trị tự trả
1  Chi trả phí tư vấn              50  người             10  lần 20,000                10,000,000
164    Cộng                10,000,000
182   TỔNG CỘNG CHI PHÍ THƯỜNG KỲ                23,860,000
  Không tính phí tư vấn                13,860,000
  Chi phí thường kỳ tính trên khách hàng (làm tròn) (không tính thuốc Methadone)                       68,200

 

 

[1] UNODC, báo cáo tình hình ma túy thế giới 2012

[2] Như trên

[3] Như trên;  Bryan Stevenson, Chính sách ma túy – tư pháp hình sự và giam giữ hàng loạt, tháng 1-2011;  Viện xã hội mở và Hội Giảm hại quốc tế, quyền con người và chính sách ma túy – tóm tắt số 4: điều trị bắt buộc .

[4] Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng ma túy, Cơ chế tác động của ma túy lên não

[5] Ari Rosmarin và Niamh Eastwood, 2012, Một cuộc cách mạng thầm lặng – Các chính sách phi hình sự hóa ma túy trên toàn cầu

[6] Như trên

[7] UNODC và UNAIDS, Điều trị methadon ở Hồng Kong – lịch sử, chiến lược và kết quả, tháng 1 2009

[8] Vicknasingam và Mahmud  Mazlan, Chính sách điều trị nghiện ma túy tại Malaysia: chuyển đổi từ cai hoàn toàn đến giảm hại

[9] Báo cáo của ban nghiện cứu xây dựng Đề án qua chuyến tham quan học tập kinh nghiệm chuyển đổi mô hình cai nghiện tại Trung tâm của Malaysia

 

[11] Viện chính sách tư pháp, 2008, Điều trị lạm dụng chất và an toàn công cộng

[12] UNOC & WHO, 2008, Nguyên tắc điều trị lệ thuộc ma túy

[13] UNODC, 2010, Từ bắt buộc đến nhất quán – điều trị lệ thuộc ma túy bằng chăm sóc sức khỏe chứ không trừng phạt

 

[14] Bộ Công an – Báo cáo tình hình, kết quả công tác PCMT 6 tháng đầu năm 2012 và phương hướng công tác trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012

[15] Bộ Công an – Báo cáo tình hình, kết quả công tác PCMT 6 tháng đầu năm 2012 và phương hướng công tác trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012

[16] Bộ Y tế – Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và trọng tâm công tác 6 tháng cuối năm 2012

4.Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Báo cáo khảo sát người nghiện ma túy tại các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (2009).

>>  Hiệu quả mô hình cai nghiện ma túy tại cộng đồng